THÁI LAN - CAMPUCHIA - SINGAPORE MALAYSIA INDONESIA Gọi ngay 0911.46.33.89 hay 0982.55.22.90 NGUYỄN THANH TÂM
Xin mời bạn cùng mr Tâm Pacific đi tìm thêm từ trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam xưa kia có gì hay không nào ? Biết đâu sau bài viết này, bạn sẽ có thêm được nhiều kiến thức hữu ích nào đó, về tín ngưỡng cũng như tôn giáo hiện tại của bạn trong bài viết ngày hôm nay. Nào xin mời bạn cùng nghiên cứu thêm trong chuỗi bài viết về Di Sản Văn Hóa Dân Tộc trong Tín Ngưỡng và Tôn Giáo ở tại Việt Nam.

Những giá trị tinh thần của tôn giáo

I. Từ trong tín ngưỡng dân gian


Người dân Việt luôn nghĩ "Sống về mồ về mả, không ai sống về cả bát cơm", có nghĩa bên cạnh cái sống vật chất với thân xác còn có cuộc sống tinh thần với tâm linh, và như thế trong cộng đồng. Ngoài những thành viên đang cùng sống và làm việc với nhau, còn có thần linh nữa. Vì thế một hệ tư tưởng rất sâu bền ở mọi người là hệ tư tưởng và thần quyền, với một hệ thống thần linh, mà ai nấy đều luôn tôn trọng.

Ngay từ trong văn hóa Đông Sơn, qua truyền thuyết và các hiện vật khảo cổ nhất và trống đồng, người Việt cổ đã có những tín ngưỡng phổ quát được bám rễ sâu rộng trong nhân dân, mà sau đấy vào thời Bắc thuộc, tuy bị chính quyền đô hộ đánh phá và đồng hóa, những mảnh vụn của nó vẫn được nhân dân gìn giữ. Chính nhờ sức mạnh văn hóa ấy, mà trong hoàn cảnh khó khăn mất nước, tổ tiên xa xưa của chúng ta đã luồn trườn khỏi âm mưu đồng hóa, nhưng cũng tiếp cận những mặt thích hợp của văn hóa Hán, và các nền văn hóa láng giềng khác, để nâng mình trở thành người Việt văn hóa văn minh.

A. Tín ngưỡng Mặt Trời


Với nền kinh tế nông nghiệp trồng cây lúa nước là chính, song vẫn không quên kinh tế phụ trồng màu, chăn nuôi, đánh cá, ... người Việt cổ phụ thuộc rất nhiều vào nước và ánh sáng, từ đấy đã hình thành tín ngưỡng thờ Mặt Trời và các hiện tượng tự nhiên có liên quan Tên tất cả các mặt trống đồng, hình Mặt Trời bao giờ cũng được đúc nổi cao, ở vị trí trung tâm trang trọng nhất. Tiếng trống vang lên, là sự hô cầu của con người, để rồi Trời cao hưởng ứng với những tiếng sấm báo hiệu sẽ mưa. Mãi về sau này, Ông Trời vẫn luôn là vị thần tối cao, mà mọi người luôn tôn xưng là Ngọc Hoàng Thượng Đế cai quản cả vũ trụ, mà Thiên Tử là con của Trời làm vua cai quản đất nước ở hạ giới. Con rồng vốn là biểu tượng của nguồn nước, khi tầng lớp thống trị muốn bá chiếm làm hình ảnh của Vua, thì khắp nơi rồng luôn phải chầu Mặt Trời, mà ở những không gian thiêng là đền, đình thì luôn có hình mẫu trang trí ấy.

Tục thờ Mặt Trời về sau mờ đi, và các trò chơi đánh phết, vật cù, cướp cầu, ném giỏ, ... không thể thiếu trong nhiều hội lễ, nhất là trong các lễ cầu Vũ ở vùng Trung Châu Bắc Bộ và Thanh Nghệ đã trở thành mật mã, thì với quy định cách chơi phải đưa quả cầu đỏ chuyển động trên tuyến Đông Tây, cho tới khi rơi vào lỗ, có thể xem là mã số để giải mã như giáo sư Từ Chi đã nhận thấy, và được nhiều nhà nghiên cứu đồng tình. Với tình cảm gia đình, người ta gọi Mặt Trời là Ông Trời thân mật mà tôn kính, còn Ngọc Hoàng Thượng Đế thì càng vời vợi, là chỗ dựa tinh thần để người dân tin vào công lý - chân lý trong mọi phán xét cuối cùng. Để rồi, từ đấy xã hội thiết lập từ trật tự với sự ổn định theo kỷ cương, và đạo đức sống cho cả cộng đồng, cũng như từng cá nhân dưới sự kiểm soát của Ông Cao Xanh - Mặt Trời.

B. Tín ngưỡng Mẫu


Biểu hiện cụ thể của tổng kết kinh nghiệm trồng cây lúa nước "Nhất Thì, Nhì Thục" là trước cả kỹ thuật và cây giống chính là yếu tố thời tiết. Mà hiện tượng trực quan là Mây - Mưa - Sấm - Chớp được xem là các vị thần, bà đỡ của nghề nông, mà người ta thường gọi là các Bà trong tín ngưỡng về Mẫu. Rồi khi Phật giáo du nhập vào ta, trong phương thức tồn tại, nó cộng sinh ngay với tín ngưỡng bản địa, thì các bà Mây - Mưa - Sấm - Chớp được xem là con Phật, đầy phép huyền nhiệm với tên Hán Việt là Pháp Vân - Pháp Vũ - Pháp Lôi - Pháp Điện mà mọi người gọi chung Tứ Pháp.

Với huyền thoại và nguồn gốc Tứ Pháp, người mẹ Việt Nam - Mam Nương đã trở thành Phật Mẫu, và ngày hội các chùa này được ấn định theo ngày Phật Đản ( quan niệm trước đây là ngày mồng Tám tháng Tư ). Cũng từ tín ngưỡng Mẫu này, thần điện Phật Giáo vốn gốc Ấn Độ toàn nam thì sang ta đức Phật lại mang dáng nữ, và Quan Thế Âm Bồ Tát được chỉ định là Bà rõ ràng. Tín ngưỡng thờ Mẫu này mãi những thế kỷ gần đây, khi Ki-Tô giáo vào Việt Nam, cũng khai thác để nhân vật Ma-ri-a có thể hóa thân vào mà thu hút tín đồ.

Ngày nay hầu hết các chùa, đều có Điện Mẫu. Nơi thờ riêng Mẫu, sau truyền thuyết hóa với nhân vật Liễu Hạnh, trở thành Phủ Giầy vào dịp xuân được mọi người trẩy hội như cuộc hành hương về Thánh Địa với tâm thức "tháng 3 giỗ mẹ". Trên cơ sở tín ngưỡng Mẫu ấy, dân tộc ta đã có những anh hùng cứu nước đích thực đầu tiên là Hai Bà Trưng, Bà Triệu với rất nhiều nữ tài ba. Các bà mẹ dân tộc đã sinh ra những đứa con là anh hùng huyền thoại và anh hùng lịch sử, mà cả khi sinh vào lúc dưỡng cứ lấp lánh hào quang. Từ nguồn mạch ấy, dân tộc ta tin vào triết lý "Phúc Đức Tại Mẫu" và mọi người đều xác định "Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra" để rồi từ đó phải sống sao cho xứng với người Mẹ trong nhà và mở rộng với bà mẹ Tổ Quốc.

C. Tín ngưỡng Tổ Tiên


Nhớ nghĩa Mẹ mọi người cũng ghi "Công Cha như núi Thái Sơn" coi người cha là chỗ dựa chắc chắn nhất trong gia đình. "Con có Cha như nhà có nóc" và ai cũng hiểu trước nữa phải có Ông Bà, cứ thế truy lên là Tổ Tiên. Cả anh hùng dân tộc như Đức Thánh Trần cũng được tôn là Cha với hội lễ vào dịp "Tháng 8 giỗ Cha ..." thu hút nhân dân cả nước. Tổ Tiên sống ở thế giới bên kia, nhưng vẫn theo dõi để phù hộ hay quở trách con cháu. Do đó con cháu phải thờ cúng Tổ Tiên, và ngày giỗ người thân trong gia đình, bên hình thức tưởng niệm là cả một sinh hoạt văn hóa để mọi người cùng uống nước nhớ nguồn.

Từ đấy, trong nội thất của ngôi nhà chính, gia đình nào cũng dành phía trong không gian giữa, là không gian thiêng để kê bàn thờ Tổ Tiên, và lấy việc chăm sóc phần mộ Tổ Tiên làm trọng, hàng năm đều có tảo mộ vào cuối năm, để "mời các cụ về ăn Tết với con cháu", hoặc vào đầu năm trên một hội xuân "Lễ là tảo mộ, Hội là đạp thanh" (Kiều). Mở rộng ra, với những người cùng huyết thống là họ hàng, thì mỗi họ đều có một nhà thờ họ, để thờ cúng tổ tiên chung của cả dòng họ.

Chính tín ngưỡng thờ Tổ Tiên này đã gây cho mọi người một ý thức đoàn kết, và trọng đạo Hiếu của người con, còn bao hàm cả sống sao cho sáng danh Tổ Tiên và con cháu sau này không hổ thẹn, có nghĩa là phải sống có ích cho xã hội. Với tập thể cùng cộng cư trong một làng thì thần thành hoàng được xem là Tổ chung, phải có nghề hoặc đền để thần trú ngụ hàng ngày, và có đình để những ngày hội lệ làm lễ tế thần. Ở đó, mọi người gắn bó nhau bằng cả quyền lợi và nghĩa vụ, bằng phong tục tập quán và cả dư luận nữa, để cùng nhau tạo ra một thứ văn hóa vùng, văn hóa xứ, và phát triển thành văn hóa dân tộc.

Với huyền thoại trăm trứng, mọi con dân cả nước đều nhận nhau là anh em, từ ngàn xưa đã có chung cha Rồng mẹ Tiên, có chung Quốc Tổ là Vua Hùng, với mộ Tổ ở núi Hy Cương, để hàng năm mở hội quy mô quốc tế do Nhà Nước chủ trì với lời nhắc nhở : "Dù ai đi ngược về xuôi. Nhớ ngày Giỗ Tổ Mồng Mười Tháng Ba". Chính ý thức chung cội nguồn từ gia đình đến họ hàng, và mở rộng ra cả nước, đã dễ dàng có được sự đoàn kết dân tộc để tạo thành sức mạnh chiến thắng mọi kẻ ngoại xâm lớn mạnh, dù đó là phong kiến phương Bắc, là thực dân và đế quốc Phương Tây. Và dù vạn bất có ở tình huống mất nước, thì tạm thời chịu vong quốc, chứ không thể vong bản, và còn gốc còn làng thì chống chầy nhất định sẽ giành lại được nước.

D. Tín ngưỡng Phồn Thực


Ý thức về nòi giống còn dẫn đến tín ngưỡng phồn thực. Thật ra, từ xa xưa trong điều kiện lao động cực nhọc, cả trồng cây và chăn nuôi đều bấp bênh, với năng suất thấp, đã bị mất mùa và nạn dịch gia súc, đời sống khó khăn, tình trạng hữu sinh vô dưỡng có khi khá trầm trọng. Để  khắc phục tình trạng người hiếm của mọn, để nuôi ước vọng dân đông vật thịnh, sự cố gắng của con người chưa đủ, còn cần phải có sự cộng cảm của thần linh. Từ đó, đã sớm nảy sinh tín ngưỡng phồn thực. Và với kinh nghiệm trực quan, sự đơm hoa kết trái của cây cối, sự sinh con đẻ cái của các con vật ( kể cả con người ) phải qua hoạt động tính giao của giống đực với giống cái.

Sinh vật dồi dào thì của lắm, con cháu nhiều thì người đông. Đó chính là khía cạnh cụ thể của hạnh phúc. Mà ở một xã hội đầy thiên tai địch họa, thì việc đảm bảo cuộc sống trước mắt và truyền thống nòi cho mai sau chẵng những mang tính cấp thiết, mà còn có chất thiêng liêng. Bốn cặp tượng trai gái ân ái trên nắp thạp đồng Đào Thịnh ( Yên Bái ), và vô số hình trai gái tình tự, hoặc ân ái chạm trên nhiều đình làng cuối thế kỷ XVII là những biểu hiện phác thực nhất.

Tín ngưỡng phồn thực này được duy trì cho mãi đến giáp cách mạng tháng tám 1945, trong các lễ hội dù đã quên mất ý nghĩa vẫn được công diễn như một hèm được tuân thủ nghiêm ngặt. Và qua đấy, một tinh thần dân chủ được duy trì đã mang lại cho làng quê những nét sinh hoạt hồn nhiên, phần nào có cả sự bình đẵng nữa. Chính ở đây, chúng ta nhận ra một chiều sâu văn hóa làng, và nó tạo cho văn hóa dân tộc những nét đặc sắc để chúng ta góp cho kho tàng văn hóa nhân loại. Ngày nay, trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển và kế hoạch gia đình, tín ngưỡng phồn thực không còn là con đường đeo đuổi nữa, song những gì đã thành văn hóa thì dấu ấn của nó là những dấu son cần được trân trọng.

II. Đến những tôn giáo du nhập được người Việt tiếp nhận


Các tín ngưỡng dân tộc không phát triển thành tôn giáo được, nhưng ngay từ trước, sau Công Nguyên đã tiếp nhận một số tôn giáo từ bên ngoài du nhập vào, và cải biên nó cho phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam. Rồi trong quá trình lịch sử, những tôn giáo ấy hầu như không bài xích nhau, không gây ra chiến tranh tôn giáo, trái lại còn hòa đồng có lúc khá chặt chẽ. Ở đây, chúng ta cũng nhận thấy trong các tôn giáo này, những giá trị tinh thần làm đậm cho văn hóa dân tộc.

A. Đạo Giáo


Rải rác trên nhiều miền đất nước cho đến ngày nay, vẫn còn những quán Đạo Giáo. Ở đó, các chữ đề trên biển, trên bia, trên chuông, ... đều ghi rõ là Quán, song nhân dân phần lớn lại gọi là Chùa. Điều đó, chứng tỏ Đạo Giáo và Phật Giáo có sự thâm nhập, thậm chí hòa trộn nhau theo xu hướng Đạo Giáo tan vào trong Phật Giáo. Biểu hiện cụ thể là rất nhiều chùa, trên Phật điện có cả một số vị thần của Đạo Giáo, chí ít là bộ tượng Ngọc Hoàng với Nam Tào và Bắc Đẩu ở hai bên, mà lại ở ngay hàng dưới cùng gần chúng sinh nhất. Vì thế, đã có người nghiên cứu nhận xét rất đúng rằng : "Người Việt Nam theo Đạo Giáo mà không biết rằng đó là Đạo Giáo".

Tuy nhiên, dưới góc độ di sản văn hóa, để tìm hiểu giá trị tinh thần của từng tôn giáo, chúng ta tạm tách Đạo Giáo riêng ra để nhận dạng. Nói đến Đạo Giáo là nói đến vấn đề các thần tiên với những kỳ phương dị thuật. Tư tưởng này vốn phổ biến ở xã hội nguyên thủy, mà ở Việt Nam do công xã nông thôn chậm giải thể, nên tàn tích của nó tồn tại dai dẳng đến thế kỷ này. Các truyền thuyết về thời các vua Hùng dựng nước đầu tiên cho rằng Lạc Long Quân có nhiều phép trị được cả Hồ Tinh lẫn Mộc Tinh, Chử Đồng Tử có thuật chữa bệnh và xây thành trong chớp nhoáng, An Dương Vương được thần Kim Quy cho bảo pháp trừ tinh gà để xây thành Cổ Loa, .... Trên cơ sở tín ngưỡng dân gian ấy, người Việt cổ khi tiếp xúc với văn hóa Hán, đã tiếp nhận những yếu tố phù hợp trong Đạo Giáo của Trung Quốc.

Đạo Giáo Trung Quốc coi Lão Tử là ông Tổ, đưa ra cách sống theo lẽ tự nhiên của vạn vật, và đó chính là cái đạo không hề hủy diệt. Nhưng sau đó, Trang Tử đã thần bí hóa cái đạo của Lão Tử, xem nó là thiên cơ mà chỉ có các chân nhân mới nắm được nên đã trở thành thần tiên. Với các hoạt động phù phép và luyện đan để chữa bệnh và sống lâu, nó gặp lại tín ngưỡng nguyên thủy, và do đó khi thâm nhập vào Việt Nam, đã được người Việt tiếp nhận dễ dàng. Nhưng phần đông người Việt dù có hành lễ trước Thần Điện Đạo Giáo, có những hoạt đồng phù thủy hay thần tiên cũng không biết mình theo Đạo Giáo.

Và với chủ trương sống theo thiên nhiên, đã nảy sinh ở mọi người tình cảm ưa thích thiên nhiên, mở rộng ra là yêu sông núi đất nước, từ đó dẫn đến tình yêu Tổ Quốc gấm vóc. Tư tưởng ấy thấm vào cả các nhà Sư và nhà Nho, để rồi làm giàu cho kho tàng văn hóa nghệ thuật với nhiều tác phẩm nổi tiếng quanh chủ đề này. Tự Đức dù phê phán Đạo Giáo đủ điều thua kém Nho Giáo, vẫn phải thừa nhận nó có vài cái hay, là tôn trọng tự nhiên. bàn về Bá Gia, Nguyễn Đức Đạt viết trong sách Nam Sơn Tùng Thoại rằng : "Đạo Lão làm vui cho thân mình, đạo Thích làm vui cho đời" và "Đạo Lão chuộng thanh tịnh, đạo Thích chuộng từ bi".

Những giá trị tinh thần của tôn giáo

Nếu xa xưa, Đạo Giáo Việt Nam sáng tạo được hình mẫu Ông Tiên dân tộc là Chữ Đồng Tử với tất cả những tính người trong đời thường, như hiếu thảo với cha nghèo, bẽn lẽn với phụ nữ, chung thủy với vợ hiền, thành kính với vua cha, lao động để tự lập, chan hòa với nhân dân, ... thì rồi sau đó những ông Tiên trong các truyện cổ luôn là chỗ dựa của mọi người lao khổ. Nếu trong thời phong kiến tự chủ, Đạo Giáo Việt nam suy tôn anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo thành Đức Thánh Cha, cùng với cả gia đình thành những vị thần có tài trừ ma diệt quỷ, đồng thời có suy tôn nhân vật Liễu Hạnh huyền thoại nhưng rất người thành Đức Thánh Mẹ, để rồi "Tháng Tám giỗ Cha, Tháng Ba giỗ Mẹ" là những dịp sinh hoạt văn hóa nhộn nhịp của đông đảo nhân dân miền Bắc, ... thì đã củng cố trong mỗi nhà tình nghĩa thời cha kính mẹ, mở rộng ra cả nước là sự tôn kính các anh hùng dân tộc, gắn bó mọi người trong cả nước cùng là "con Mẹ con Cha" để cùng nhau dựng nước và giữ nước.

Với những sinh hoạt thổi bùa, vẽ khoán, phù thủy, bói toán, ... Đạo Giáo có tinh thần bí huyền hoặc từ đó dẫn đến mê tín dị đoan. Song bên cạnh đó, chẳng những nó có giá trị văn hóa về mặt tinh thần như trên đã nói, mà trong một số trường hợp tư tưởng thần bí, nó còn là ngọn cờ tập hợp nhân dân đánh giặc cứu nước, mà nổi rõ là ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX này. Trong sử cũ có ghi không ít, và đặc biệt trong dân gian còn có cả huyền thoại trong trí nhớ nhiều người, và di tích đền miếu trong thôn xóm, về các vị thần báo mộng và âm phù cho triều đình trừ nội loạn, cho vua quan đánh thắng ngoại xâm. Trên dòng chảy ấy, khi đất nước bị đặt dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, triều đình Huế ươn hèn, các phong trào Cần Vương và Văn Thân thất bại, hệ tư tưởng mới chưa có, thì Đạo Giáo với sự huyền bí lại gây được niềm tin trong nhân dân, và nhen nhóm được một số phong trào.

Thấp là hình thức cầu đồng, giáng bút, nó công khai nhưng không hợp pháp, huy động các thần linh, các anh hùng dân tộc, nào Tiên, nào Thần Tứ trấn Thăng Long, nào Thánh Gióng, nào Tướng Quân Phạm Ngũ Lão, nào Tổng Đốc Hoàng Diệu, nào thủ lĩnh - thủ khoa Nguyễn Cao, ... đều có thơ kêu gọi cháu con phải tìm cách rửa hận. Chẳng hạn bài Khuyến Trung Hiếu trong sách Diễm Hóa Quốc Âm Kinh (in năm 1908) truyền là giáng bút của Phạm (Ngũ Lão) tướng quân có câu : "Nào ngài tài trí anh hùng. Nghe lời kinh dạy thủy chung vẹn tuyền. Giờ đang buổi biến thiên hoán cải. Bĩ rồi qua, vận thái có ngày ..." Những câu thơ giáng bút kiểu này rất nhiều, đã thức tỉnh dân chúng như một sự chuẩn bị về mặt tinh thần, để sau đó đón thời cơ khởi nghĩa. Trong điều kiện vũ khí thiếu thốn thì niềm tin có Thần hóa thân vào thủ lĩnh để cầm quân, có bùa hộ mệnh cũng đã tạo sự dũng cảm cho quần chúng xông lên. Ở đây, chỉ cần nêu vài trong rất nhiều sự kiện làm ví dụ :

Nguyễn Văn Cẩm từ bé đã nổi tiếng thông minh, được coi là Kỳ Đồng, năm 1888 đã chiêu mộ thiếu niên, dựng cờ khởi nghĩa "Thiên Binh Thần Tướng" định đánh chiếm Nam Định. Tiếp theo, Mạc Đĩnh Phúc gây phong trào ở vùng ven biển và trung châu Quảng Ninh - Kiến An - Thái Bình - Nam Hà - Hải Hưng, nói mình được trời và thần trao ấn phục quốc, có phép làm cho súng của Pháp không nổ, được nhân dân tham gia rất đông, và nghĩa quân khi ra trận mang theo cờ như bùa hộ mệnh có hàng chữ: ""Tuân mệnh trời giết hết giặc Pháp và đánh đổ triều đình nhà Nguyễn", năm 1897 từng tấn công thị xã Hải Dương và nhiều huyện lỵ. Cũng trên địa bàn này, đồng thời có nghĩa quân của sư Thọ - thầy chùa kiêm cả thầy phù thủy - đánh tỉnh lỵ Thái Bình, từng người ngoài giáo mác còn đeo bùa hộ thân và thẻ "Lính Nhà Trời". Những năm 1897 - 1898 và âm ỉ suốt mời năm đầu thế kỷ XX, ở Bắc Kỳ còn có cuộc vận động cho vua Long Hưng nhà Lý, do sư ông Vương Quốc Chính khởi lên, tập hợp hàng ngàn dân nghèo, tay không kéo cờ đi lên huyện, không sợ súng đạn, ... Những phong trào ấy, tước đi cái vỏ thần bí, còn lại chính là truyền thống anh hùng bất khuất với lòng tự tin quyết thắng của dân tộc.

B. Phật Giáo


Phật Giáo là một tôn giáo lớn với một hệ thống tư tưởng triết học cổ đại, ra đời từ lục địa Ấn Độ rồi truyền rộng ra nhiều nước, nhất là phía Đông, và Đông Nam Châu Á. Tư tưởng chính của Phật Giáo là hai thuyết lớn Tứ Diệu Kế và Thập Nhị Nhân Duyên. Thuyết Tứ Diệu Đế chỉ ra bốn chân lý của cuộc sống là : cuộc sống đầy khổ não, nguồn gốc của khổ là những dục vọng không nguôi ở chính mình, phải diệt trừ được nguyên nhân sinh ra khổ mới tránh được khổ, và cuối cùng chỉ ra con đường giải thoát mọi đau khổ. Con đường ấy là Bát Chính Đạo mở ra tám ngả đi chính đáng gồm chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niêm và chính định. Tất cả đều do con người phải nỗ lực để tự giải thoát, và mọi người đều có Phật tính, nên đều có thể cố gắng làm được. Phật Tổ rất tránh giáo điều, luôn nhắc mọi người phải dựa vào kinh nghiệm bản thân, thấy việc nào xấu thì phải tránh, thấy việc nào đúng thì làm.

Còn Thập Nhị Nhân Duyên chỉ rõ mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả : Con người có thân thì ít có khổ (ốm, già, chết), gốc của khổ là sinh (tức sự chuyển trong luân hồi), gốc của sinh là hữu (tức ý thức về sự tồn tại của mình), gốc của hữu là thủ (tức ham muốn kéo dài đời sống), gốc của thủ là ái (tức dục tình làm ta đam mê), gốc của ái là thụ (tức cảm giác), gốc của thụ là xúc (tức xúc giác), gốc của xúc là lục nhập (mắt nhập sắc, tai nhập thanh, mũi nhập hương, lưỡi nhập vị, thân nhập xúc và ý nhập pháp), gốc của lục nhập là hình danh (tức hình thái và tên gọi), gốc của hình danh là thức (tức ý thức về bản thân), gốc của thức là hành (chỉ những khái niệm làm cho ta muốn hành động), cuối cùng gốc của hành là vô minh (tức là không sáng suốt).

Với tư tưởng ấy, trong triết học Phật Giáo, nền vũ trụ luận và nhận thức luận là những vấn đề thuộc lĩnh vực nghiên cứu của các nhà khoa học, thì luận lý đạo đức lại được nhân dân quan tâm. Nếu Phật Giáo Tiểu Thừa nhấn mạnh do vô minh mà tạo nghiệp, thì muốn diệt nghiệp phải cầm dục để sáng suốt phá lầm, thì Phật Giáo Đại Thừa lại chủ trương vô ngã. Đối với bản thân phải nghiêm khắc sẳ mình bằng thiền định, tự kiểm điểm , phát triển trí tuệ và nhẫn nhịn, còn đối với mọi người thì phải từ bi, bác ái, vị tha, phải ngăn ngừa điều ác, khuyến khích điều thiện, có nghĩa là phải bố thí và tích đức. Trên tinh thần chung ấy, Phật Giáo truyền đến nước nào lại kết hợp với tín ngưỡng, và phong tục nước đó mà biến cải cho thích hợp.

Phật Giáo thâm nhập vào xã hội Việt Nam trong nền văn minh công nghiệp lúa nước, và trong đời sống chính trị bị phong kiến phương Bắc đô hộ, do đó để bám chắc rễ trong nhân dân, nó đã thích ứng ngay với thực tế cuộc sống, đã gắn với tín ngưỡng Mẫu, do đó đã góp phần tô đậm vai trò người mẹ, và ước mơ cuộc sống no đủ của người dân mà cơ sở văn hóa ấy phát triển trong suốt trường kỳ lịch sử dân tộc. Với tinh thần khuyến thiện trừng ác, trong hoàn cảnh nhân dân đang rên xiết dưới ách đô hộ của ngoại tộc, Phật Giáo đã sớm trở thành ngọn cờ tập hợp nhân dân đấu tranh giành độc lập. Trong nhà nước Vạn Xuân, thành lập được ở thế kỷ XI giữa đêm đông Bắc thuộc, có nhân vật Lý Phật Tử, mà duy danh định nghĩa thì rõ ràng đấy là một tín đồ của đạo Phật, người họ Lý. Một Phật Tử cụ thể ở đây được xem như tượng trưng cho tất cả Phật Tử đương thời yêu nước đã tham gia tích cực vào cuộc vận động giải phóng dân tộc.

Những giá trị tinh thần của tôn giáo

Đặc biệt, vào cuối thời Bắc thuộc, khi các nhà sư dân tộc uyên thâm Phật Giáo đã nhiều, lớp quý tộc mang ý thức dân tộc chắc đã đông, lực lượng nhân dân được thức tỉnh, quyền lợi dân tộc độc lập đã mạnh, thì Phật Giáo lại càng phát huy vai trò nhen nhóm, thổi bùng và giữ gìn ngọn lửa đấu tranh giải phóng dân tộc. Thiền Sư Định Không (740 - 818), trưởng lão La Quý An (825-936) và đặc biệt thiền Sư Vạn Hạnh (?-1018) là những người tích cực gây ý thức và niềm tin về sự tất thắng của cuộc vận động giải phóng dân tộc, về sự hưng thịnh của một quốc gia dân tộc độc lập.

Từ cuối thập niên 30 của thế kỷ X, đất nước độc lập và sau đó ít lâu được thống nhất, thì các thiền sư Ngô Chân Lưu, Pháp Thuận, Vạn Hạnh là những cố vấn đắc lực cho các triều Ngô - Đinh - Tiền Lê trong các quốc sách giữ nước và dựng nước. Nếu từ thế kỷ X, sư Pháp Thuận đã khuyên vua Lê Đại Hành : "Vô vi trên điện các, chốn chốn dứt đao binh", thì thế kỷ XIII tinh thần ấy lại được sư Phù Vân dặn vua Trần Thái Tông. Suốt thời Lý và đầu thời Trần, Phật Giáo giữ vai trò chính trị quan trọng, và đóng góp cho văn học nghệ thuật nhiều tác phẩm giá trị. Cuối thời Trần, một số Nho Gia công kích kịch liệt Phật Giáo, song như Trương Hán Siêu cuối cùng phải nhận mình lầm : "Nhân dân ngộ tạc phi !".

Từ thế kỷ XV đến IX, tuy có lúc Phật Giáo bị Nhà Nước hạn chế, song trong hoàn cảnh nội chiến liên miên, thì nó lại là chỗ dựa tinh thần của cả quý tộc và nhân dân. Đặc biệt khi đất nước bị thực dân Pháp xâm lược và đô hộ, thì một số nhà sư đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa như sư Thọ ở chùa làng Lãng Đông huyện Trực Ninh (Nam Hà) và sư Vương Quốc Chính ở chùa Ngọc Long Động huyện Chương Mỹ (Hà Tây), mà phần bàn về tinh thần Đạo Giáo ở trên đã nói tới. Còn một số cuộc khởi nghĩa khác cũng do các nhà sư lãnh đạo. Có điều, qua đây chúng ta càng nhận rõ sự thâm nhập của Đạo Giáo vào Phật Giáo, nhiều nhà sư cũng là hoạt động bùa chú như thầy phù thủy, không câu nệ vào hình thức, miễn là đạt được mục đích. Mà thực ra, các thiền sư Việt Nam từ thời Bắc thuộc đến các thời quân chủ luôn tạo cho mình những vòng hào quang huyền bí, để mọi người càng tin chắc vào uy tín thiêng liêng của Phật, của Thần Thánh.

Cùng với tinh thần vị tha, từ bi, bác ái, ... trong sinh hoạt Phật Giáo còn có một hình thức rất cần cho việc xây dựng đạo đức xã hội mà dân tộc ta rất coi trọng : sau 3 tháng hè (từ giữa tháng 4 đến giữa tháng 7 âm lịch - tùy nơi có xê dịch), các sư tăng phải kết hạ, tu hành đủ giới - địch - tuệ, thì lại mở ra mùa báo ân báo hiếu, mà sau đó mọi người phải hành động thiết thực để đền đáp "Tứ Ân". Trước hết là việc "Tự Tứ" của các phật tử xuất gia. Sự tăng ra trước quần chúng để tự nhận lỗi, cầu thỉnh mọi người chỉ cho những lỗi lầm và nguyện sẽ sửa chữa cầu tiến. Đó chính là việc tự phê bình, và xin được mọi người phê bình, thực sự biểu hiện của việc dám nhìn thẳng vào khuyết điểm và thành khẩn sửa sai.

Còn phật tử báo Tứ Ân tức là phải đền đáp 4 ân nghĩa lớn. Trước hết là làm tròn chữ Hiếu phải nuôi dưỡng và cung kính cha mẹ, thậm chí thấy cha mẹ làm sai, phải lựa lời khuyên can, phải làm rạng rỡ truyền thống gia đình, vun đắp phúc ấm tổ tiên. Tiếp theo, phải kính trọng ông thầy đã dạy mình nên người, đã truyền nghề nghiệp cho mình, đã đưa mình vào đời, và với người thầy lớn là đức Phật thì phải làm theo lời Người dạy là "Diệt Ác Hành Thiện". Sau nữa, là phải yêu quê hương đất nước, nhớ công ơn các anh hùng đã hy sinh vì dân vì nước, phải làm cho đât nước ngày càng thêm giàu đẹp, phải đặt lợi ích của Tổ Quốc lên trên hết. Và cuối cùng là quan hệ với đại chúng, thì mọi người phải yêu thương nhau, phải làm lợi lạc cho tất cả quần sinh, phải nhớ đến cả vong linh cô hồn, thậm chí thương xót những quân thù đã chết trận. Sư tăng "Tự Tứ", Phật tử báo "Tứ Ân" là đạo đức cao đẹp của mọi người, là sự xây dựng mối quan hệ tốt đẹp nhất ở xã hội, là mối dây gắn bó hiện tại với quá khứ để xây dựng một tương lai cao sáng.

C. Nho Giáo


Nho Giáo thực ra không phải là một tôn giáo, mà là một học thuyết chính trị để các nhà nước quân chủ cai trị dân. Vì vậy, trong phạm vi bàn về giá trị văn hóa, chúng tôi sẽ thiên về vấn đề đạo đức trong Nho Giáo. Nho Giáo vào Việt Nam từ rất sớm, theo chân và là công cụ của chính quyền đô hộ phương Bắc, nên luôn bị người Việt cảnh giác và không thấm được vào công chúng. Cho đến tận thời Lý, tuy nhà Nước có cho dựng Văn Miếu để thờ Khổng Tử và các môn đệ, cho mở Quốc Tử Giám để đào tạo trí thức hoàn gia, cho thi Tam Giáo để tuyển chọn nhân tài từ 3 nguồn Phật - Đạo - Nho, nhưng Nho Giáo chưa được trọng thị, và vị trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh với câu chuyện hóa hổ định giết vua Lý Thần Tông còn gợi ra một âm mưu đảo chính của nhà Nho (hay ít ra là trong cuộc cạnh tranh tôn giáo bị thất bại).

Sang thời Trần, nhà nước tiếp tục xây dựng Văn Miếu và mở Quốc Học Viện thu hút Nho Sĩ cả nước, song Nho Sĩ ông hoàng Trần Ích Tắc lại bán nước theo giặc, phải cuối thời Trần Nho Sĩ mới đông dần, họ công kích Phật Giáo kịch liệt, nhưng cuối cùng phải thú nhận thất bại, họ đòi cải cách theo phương Bắc, thì bị các vua Trần Dụ Tông và Trần Nghệ Tông bài bác. Phải đến thời Lê sơ thì Nho Giáo mới được đề cao đến thành độc tôn. Nhưng sau đó, từ thời Mạc và kéo đến tận thời Nguyễn, Phật Giáo và Đại Giáo lại hưng thịnh bên cạnh Nho Giáo, và tình hình Tam Giáo đồng tôn là phổ biến. Trong đó, Nho Giáo có lúc được đề cao song lại luôn bộc lộ sự khủng hoảng và khi phải đương đầu với Chủ Nghĩa Tư Bản phương Tây thì bộc lộ sự bất lực và tan rã.

Mục đích chính của Nho Giáo là nhằm "Tề Gia Trị Quốc Bình Thiên Hạ", hai mặt cơ bản là thiên đạo ( đạo trời và nhân đạo ) đạo người. Thiên đạo bàn những vấn đề triết học như âm dương, ngũ hành, bát quái, từ đó đi vào mệnh và mệnh trời, đi vào sự thờ cúng quỷ thần, tổ tiên và linh khí núi sông. Với người dân Việt Nam, hầu hết bị thất học, và cả những người có học cũng không thích bàn về triết học, nên thiết thực nhất là khi nó gặp tín ngưỡng dân gian đã củng cố việc thờ cúng tổ tiên. Nhân đạo đi sâu vào những vấn đề đạo đức xoay quanh hai mặt Luân và Thường (hay Cương và Thường) mà mỗi mặt lại có 5 mối quan hệ : Ngũ Luân là quan hệ Vua - Tôi, Cha - Con, Vợ - Chồng, Anh - Em, Bè Bạn. Trong đó, rút gọn lại còn 3 quan hệ đầu gọi là Tam Cương. Lại rút gọn còn 2 quan hệ cốt lõi gọi là Đạo Quân Thần : bề tôi đối với vua phải trung, con cái đối với cha phải hiếu. Ngũ thường là 5 đức tính cần có ở con người hoàn thiện : Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Có người tập trung vào 4 đức đầu là : Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí. Có người thu về còn hai đức chính là : Nhân, Nghĩa. Lại có người nói đến 3 đức là : Trí, Nhân, Dũng. Nhưng muốn thế nào thì cái đức cốt lõi được tập trung vào chỉ còn một chữ : Nhân. Như vậy, Nhân là gốc của Ngũ thường, cũng như Trung và Hiếu, là gốc của ngũ luân.

Trên cơ sở đạo đức Nho Giáo đòi hỏi Trung với vua, và Hiếu với cha mẹ, trong điều kiện ở thời đại chúng ta, Bác Hồ đã chuyển thành nội dung mới là : "Trung với nước, Hiếu với dân" được tất cả mọi người hưởng ứng. Về những đức trong ngũ thường, xét từng trường hợp cụ thể, các nhà Nho xưa hiểu còn có chỗ khác nhau, song về cơ bản thì rõ ràng đó là biểu hiện của con người văn hóa, của xã hội văn hóa mà cả xã hội xưa, và xã hội nay đều cần phải phấn đấu để có sự trong sáng và cao sang của từng người và cả xã hội.

D. Thiên Chúa Giáo


Thiên Chúa Giáo truyền vào ta từ thế kỷ XVI, song phải đến thế kỷ XVII và XVIII mới phát triển khá, đặc biệt từ giữa thế kỷ XIX, nó đồng hành với cuộc xâm lược của thực dân Pháp. Lịch sử phát triển của Thiên Chúa Giáo ở Phương Tây cũng đã rất phức tạp, từng có những cuộc chiến tranh tôn giáo đẫm máu, và những tòa án giáo hội nghiệt ngã, ở Việt Nam trong bối cảnh nội chiến Trịnh Nguyễn ở thế kỷ XVII, chiến tranh nông dân ở thế kỷ XVIII và cuộc xâm lược của chủ nghĩa tư bản Pháp ở thế kỷ XIX lại càng nhiều phức tạp. Nhưng rõ ràng, số tín đồ Thiên Chúa Giáo ở Việt Nam đã chiếm một tỷ lệ dân số đáng kể. Ở đây, dưới góc độ di sản văn hóa, về giá trị tinh thần, chúng tôi chỉ lưu ý mặt luân lý của Thiên Chúa Giáo với những nguyên tắc và những điều răn:

- Về nguyên tắc phải thương yêu Chúa trên tất cả, kể cả gia đình mình, tổ tiên mình, đất nước mình. Tình thương yêu Chúa phải được thể hiện ra bằng tình thương yêu đồng loại, thương yêu mọi người.

- Về 10 điều răn bắt buộc phải theo và chính Chúa đã tự tay khắc trên 2 tấm đá ở núi Xi-Nai là : "Ta là chúa Trời cứu người khỏi kiếp nô lệ. Ngươi không có Chúa nào khác hơn ta. Ngươi không mang tên Chúa của người một cách vô ích. Trong tuần, làm việc 6 ngày, còn ngày thứ bảy thì dành để thờ Chúa. Hãy kính trọng cha mẹ người để sống lâu trên trái đất như Chúa cho phép. Chớ giết người. Chờ dâm ô. Chớ trộm cắp. Chớ vu cáo ai. Chớ giành nhà của người ta, chớ giành vợ, giành đầy tớ, giành con lừa, con bò và bất cứ vật gì của kẻ khác, không phải của ngươi".

Về nguyên tắc luân lý được coi là cao nhất của Thiên Chúa Giáo, thì ở Việt Nam đã nêu cao lý tưởng của Giáo Hội là "Kính Chúa và Yêu Nước". Trên tinh thần ấy mà linh mục Phan Khắc Tứ cùng đoàn 39 linh mục thăm đền Hùng ngày 16/11/1984 đã thắp hương trước mộ Tổ và nói rằng : "Trước khi là người tôn giáo, tôi là người Việt Nam. Đã là người Việt Nam thì phải có tổ tiên và gia đình". Còn việc yêu mọi người, kính trọng cha mẹ và những điều răn cấm của Chúa, thì cũng rất phù hợp với đạo đức truyền thống của dân tộc, rất cần cho văn hóa xã hội ngày nay.

Về giá trị văn hóa tinh thần của những tôn giáo từ bên ngoài, du nhập được người Việt Nam tiếp nhận và khai thác những mặt phù hợp, qua phân tích ở trên, chúng tôi nghĩ có thể dẫn lời của Bác Hồ đã có khái quát và mở rộng hơn : "Có người hỏi Nguyễn Ái Quốc. Ông là gì ? là người theo Chủ Nghĩa Cộng Sản hay là người theo Chủ Nghĩa Tôn Dật Tiên ? Đối với câu hỏi đó, Nguyễn Ái Quốc trả lời rằng : Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó. Đó là về đạo đức cá nhân. Cơ đốc giáo có ưu điểm của nó. Đó là lòng nhân ái cao quý. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó. Đó là phương pháp biện chứng trong công việc. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó. Chính sách của nó thích hợp với những điều kiện ở nước ta. Khổng Tử, Cơ Đốc (Christ), bác sĩ Tôn, họ chẳng có quan điểm chung nhau đấy ư ? Họ đều nghĩ vì nhân loại mà mưu hạnh phúc, vì xã hội mà mưu phúc lợi. Nếu như hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu như họ tụ họp lại với nhau, tôi tin rằng họ nhất định coi nhau như bạn bè, và đối xử với nhau rất hoàn mỹ. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của họ". ( trích Trần Dân Tiên : Hồ Chí Minh truyện. Bản chữ Hán. NXB Bán Nguyệt Thượng Hải, tháng 6 năm 1949, chương XVII, trang 90 - 91. Dẫn theo đoạn trích dịch của giáo sư Trần Quốc Vượng).

Chu Quang Trứ
https://www.tampacific.com


Các tìm kiếm liên quan đến "gia tri ton giao"

chức năng của tôn giáo
đặc điểm của tôn giáo
nguồn gốc các tôn giáo
thuật ngữ tôn giáo
tín đồ tôn giáo là gì
tôn giáo là gì
tôn giáo là gì bản chất vai trò của nó
vai trò của tôn giáo


Các tìm kiếm liên quan đến "tinh than ton giao"

14 tôn giáo ở việt nam
chức năng tôn giáo
đặc điểm tôn giáo
khái niệm tôn giáo
nguồn gốc của các tôn giáo
sự ra đời của tôn giáo
tôn giáo là gì cho ví dụ
vai trò tinh thần của tôn giáo



DMCA.com Protection Status
Links topic : https://www.tampacific.com/2019/04/nhung-gia-tri-tinh-than-cua-ton-giao.html
- - 0 bình luận
CHUYÊN MỤC

Loading...
  • Google Comment (0)
  • Facebook Comment ()
  • Một số lưu ý khi bình luận

    Mọi bình luận sai nội quy sẽ bị xóa mà không cần báo trước (xem nội quy)

    Bấm Thông báo cho tôi ( Notify me ) bên dưới khung bình luận để nhận thông báo khi admin trả lời