THÁI LAN - CAMPUCHIA - SINGAPORE MALAYSIA INDONESIA Gọi ngay 0911.46.33.89 hay 0982.55.22.90 NGUYỄN THANH TÂM

Chẳng phải đến 1782, Bangkok trở nên một trung tâm với nội lực tiềm ẩn của đất nước ThaiLand, qua đường nét cuối cùng vẽ nên Thủ Đô được thiết dựng xuyên suốt nhiều thế kỷ. Mặc dù, mang danh một thành phố quan trọng, trải qua hàng trăm năm xây dựng, bên cạnh dòng sông Chao Phraya, nằm giữa thủ đô cổ kính của vùng Ayutthaya, chạy lên phía Bắc và trải dài đến biển phía Nam. Bangkok theo nhịp diễn tiến của các Vương Quốc, và xâm lấn những vùng thuộc phía Bắc, khiến Bangkok phát triển một cách tự nhiên qua những sự kiện lịch sử mãi đến ngày nay. Nếu bạn có nhu cầu muốn đi tour du lịch Thái Lan, thì hãy alo số điện thoại 0911.46.33.89 hay 0982.55.22.90 gặp mr Nguyễn Thanh Tâm nhé. Xin cám ơn bạn !!! Bạn đang xem bài viết Sự Hé Rạng của Thủ Đô Bangkok tại Thái Lan trong chuyên mục "Hướng dẫn tham quan thủ đô Bangkok Thái Lan".

Sự hé rạng của thủ đô Bangkok Thái Lan
Câu chuyện về Bangkok khởi nguyên từ phía Bắc xa xôi của đất nước ThaiLand. Lấy từ sỏi đá dựng lên những ngôi nhà cao tầng, giờ đây hơn một lần lại nảy mầm cung ứng chất bổ dưỡng cho các cánh đồng lúa xanh tươi. Vào thời buổi đó, ít nhất cách đây 1500 năm, nơi tọa lạc của thủ đô còn chìm dưới mặt nước đại dương. Cứ mỗi lần gió mùa đến, dòng nước chuyển động từ sông Chao Phraya tràn về phía Nam, mang theo sỏi đá, đất đai từ các nông trại bị sói mòn chảy ra biển cả, dần dần đẩy nhẹ bờ biển ra xa hơn rồi trở thành nơi danh tiếng cho hôm nay, chính là Vịnh Thái Lan.

*** Xem thêm bài viết : Bốn vùng địa lý Thái Lan chi tiết như thế nào ?

Rốt cuộc, những lớp bùn dày đặc nhô lên khỏi ngấn nước, những cây đước đâm sâu rễ và cá tôm sinh sôi thoải mái. Sau đó, những ngôi nhà bắt đầu dựng lên trên các cột cây đước sẵn có, vượt trên phù sa do thủy triều đưa đến. Những người dân sử dụng những hòn đảo được xem như những cơ sở giúp hành trình đánh cá gần bờ biển. Hằng năm, dòng sông mang đến nhiều sỏi đá, và nhiều bùn đất hơn nữa, cho đến lúc vùng châu thổ nhô lên cao vừa tầm, giúp nông dân dọn đất để canh tác mùa vụ, và tỉa lúa.

Chung quanh những cánh đồng bát ngát này, nhiều làng mạc mọc lên, rồi phát triển thành thị trấn, và cuối cùng đô thành xuất hiện. Do châu thổ bắt nguồn tạo ra những cánh đồng hội tụ cát và đất bồi, khiến thủ đô Bangkok vẫn giữ bộ mặt đô thành bằng phẳng, nên không có điểm đặc biệt nhô lên với chỗ khác. Có những trận lũ lụt luôn luôn làm thủ đô lầy lội. Từ tháng mười gặp lúc gió thổi, dòng sông Chao Phraya dâng cao chảy tràn vào các đại lộ, phố phường. Hằng năm, Bangkok ngập chừng 10 cm.

Nguồn gốc của Bangkok ThaiLand


Thủ đô Bangkok được hình thành từ một thị trấn nhỏ, vào thế kỷ thứ 16, dưới triều đại vị vua trị vì thời gian ngắn ngủi, đã ra lệnh dân chúng đào con kênh dài 2m ngang qua vùng lân cận, tạo thành một vòng quanh sông Chao Phraya, rồi cắt một đoạn phân đôi giữa biển và vùng Ayutthaya. Những trận lũ lụt theo gió mùa hằng năm, xói mòn bờ kênh trông giống như bãi cát phẳng lì, cho đến lúc con kênh phình rộng ra biến thành dòng chảy chính của sông.

Hai bờ sông vươn lên hai thị trần sầm uất. Việc bố trí thương mãi dọc theo thủy lộ của dòng sông lên tận vùng Ayutthaya, vượt xa sông 75km - vùng Thonburi ở về phía Tây, về phía Đông là Krung Thep, địa điểm trở thành Bangkok. Vào thời điểm đó, Bangkok nhỏ hơn một ngôi làng có hạ suy tư là những cây mận hoang dã (hay còn gọi là kok). Vì các lẽ đó, thủ đô gọi là Bangkok, phiên dịch là "Ngôi làng chuyên trồng những cây mận hoang dã."

Suốt thế kỷ thứ 17, thị trấn được quần tụ do các thương gia và nông dân bỏ công chăm bón, những cây mận của họ, trong vùng đất trũng. Tại những vùng có vấn đề lũ lụt, giá trị thương mãi kém cỏi và không hợp lý, để phát triển trưởng thành. Nhưng vùng này đã trở nên những đô thị lớn nhất, thuộc Đông Nam Châu Á. Để am tường cặn kẽ tại sao thành đô đã phát triển tốt đẹp như thế, chính là nhờ vào sự mở mang toàn bộ của vương quốc Thái Lan.

Nền văn hóa Chiang


Trải qua hàng trăm năm trước đây, tại thung lũng Chao Phraya xuất hiện một nền văn minh cổ kính, trước khi sắc tộc người Thái đến. Qua sự khám phát đầu tiên về những dị vật tiền sử được đưa ra ánh sáng trong thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến, do tù binh gốc Đức đã tiến hành trên "cung đường hỏa xa đầy tử thần" tiến đến Miến Điện (Burma). Do sơ suất, ông ta không khám phá những vật dụng thuộc thời đại đồ đá tại Ban Kao, ngay tỉnh phía Tây vùng Kachanaburi, nhờ sự kiện này đưa đến việc khám phá những hang động thuộc thời đồ đá cũ, và thuộc thời đồ đá mới, ngoài ra, có những nghĩa địa chôn nhiều tài sản và dụng cụ cũng như những đồ tạo tác thời tiền sử vô giá.

Tuy nhiên, hầu hết các địa thế mang tính chất quan trọng về khảo cổ học, đều thuộc các ngôi làng bé nhỏ vùng Ban Chiang, gần tỉnh Udon Thani, về phía Đông bắc của đất nước Thái Lan. Nơi đây, sự khai quật có hệ thống được tiết lộ, gồm hai đề mục thực hành và trang trí qua những đồ gốm thủ công và đồ nữ trang, có những vật mẫu về dụng cụ làm bằng đồng và sắt. Nguồn gốc, dân tộc Ban Chiang, đang trong vòng bí mật. Theo thời biểu khảo cổ, sự hiện hữu của đồ gồm thủ công thể hiện nền văn hóa cách đây 2000 năm, theo con đường văn minh, ngày tháng định hình trên đồ gốm thủ công của Ban Chiang có chừng 3600 năm trước Công Nguyên.

Việc định cư đã hình thành từ lâu, cho đến năm 250 trước Công Nguyên. Sau việc định cư, dân tộc biến dần do lịch sử một cách bí mất. Trong lúc dân chúng phát triển một cách thịnh vượng, lo cày bừa cấy lúa, chăn nuôi gia súc, cố gắng nâng cao tay nghề trong việc sản xuất đồ gốm, thì nền văn hóa của Ban Chiang cũng tiến lên một trình độ cao về mặt kỹ thuật, do sự kế thừa của người tiền sử vùng Đông Nam Châu Á.

Ảnh hưởng của Ấn Độ


Qua những đoạn trích dẫn trong các bài thuyết giáo xa xưa, thì người Ấn Độ hiện diện trong vùng này, ước chừng vào thế kỷ thứ ba, trước Công Nguyên. Đó là bằng chứng hiện hữu đã được khai quật. Những thế kỷ sau đó, Phật Giáo và Ấn Giáo thâm nhập, thể theo những nghi lễ do người Ấn tổ chức, có tượng thánh, có qui tắc luật lệ và những bản luận án về vũ trụ và kiến trúc. Tất cả thể hiện một khối do những tầng lớp cai trị người Đông Nam Châu Á chế ngự, và điều chỉnh phù hợp những nhu cầu , và sở thích của địa phương. Tiếng nói Sanskrit trở thành ngôn ngữ cung điện, trong lúc tiếng Pali là ngôn ngữ chuẩn mực đạo đức Phật giáo. Quí vị chức sắn bản xứ, ao ước củng cố quyền lực cai trị của mình, và nâng cao uy tín sẵn có, bằng cách truyền bá nền văn hóa, thường gọi đó là Tu Sĩ Bà La Môn (đẳng cấp cao nhất về tu sĩ của người Ấn) để phê chuẩn luật lệ của họ.

*** Bài viết liên quan : Đổi tiền Thái Lan để qua thỉnh xá lợi Phật hộ mệnh

Những người Thái đến


Đề cập về cội nguồn của sắc tộ Thái, đã được thảo luận một cách gay gắt qua nhiều thập niên. Những tập quán được ngưỡng mộ đánh giá rằng, dân chúng đầu tiên từ Trung Quốc đến Xiêm La (Siam) như Thái Lan nổi tiếng từ năm 1939, họ đã trốn khỏi sự cướp bóc Mông Cổ. Có lý thuyết khác suy đoán rằng, họ bắt nguồn sinh sống tại Thái Lan từ một đến hai thiên niên kỷ trước đây, và số người Thái Lan cũng còn tìm thấy tại Trung Quốc ngày nay. Người ta nói rằng, nhóm người này từ Thái Lan di dân đến miền Bắc chừng 1000 năm trước đây. Một trong những học thuyết có sức thuyết phục cho rằng.

Có lẻ đầu thế kỷ thứ 10, số người sinh sống tại tỉnh Yunnan của Trung Quốc di tản theo những dòng sông suối, xuống những thung lũng thuộc hệ thống sông ngòi của Đông Nam Châu Á. Dừng chân tại đây, họ chia làm nhiều nhánh. Đó chính là Shan, còn gọi là Thai Yai (nhóm Thái đông người) đi đến Miến Điện (Burma), nhóm khác định cư tại Lào, có số người chiếm cứ đảo Hải Nam (Hainam) ngoài bờ biển Việt Nam. Có nhóm người đông đảo gọi là Thai Noi (Little Thais) định cư lần đầu tiên tại miền Bắc của Thái Lan cấp tiến, quanh vùng Chiang Saen và những thung lũng về phía Nam. Qua bất cứ điều gì phỏng đoán cho là đúng, sự kiện này được chấp nhận rằng, nội địa sơ khai của Thái tại ThaiLand chính là ngọn đồi ở phía Bắc. Họ tự lập lên những lãnh địa của Hoàng Thân, có  một số trở thành những Vương Quốc độc lập.

Vào năm 1238, lần đầu tiên tại Sukhothai, ngay rìa phía Nam, người Thái xâm nhập. Tiếp đó, họ đến vùng Chiang Mai vào năm 1281, rồi Chiang Rai vào năm 1296. Sau đó, nhóm chủ yếu của người Thái di chuyển xa hơn, đến tận bán đảo để thiết dựng những lãnh thổ quốc gia đầy quyền lực, Chiang Mai tiếp tục điều khiển một cách tự trị suốt vùng phía Bắc, bảo toàn nền văn hóa đặc biệt của mình. Nhiều thế kỷ trôi qua, nhóm chủ yếu người Thái đã chia sẻ đất nước với sắc tộc người Lào, số người này đã định cư tại vùng Đông Bắc, có ngôn ngữ và nền văn hóa tương tự. Eo biển phía Nam liên tiếp Thái Lan ( từ phía Nam Bangkok ) với bán đảo Malay trở thành nội địa của những tín đồ đạo Hồi.

Vương quốc của SukhoThai


Danh xưng, Sukhothai được phiên dịch từ nhóm từ "Bình Minh của Hạnh Phúc" và hệ thống chữ viết xuất hiện trước đây, tạo ra sự tin tưởng, khiến dân chúng thụ hưởng nền tự do thật lớn lao, để theo đuổi phương cách sinh sống cao đẹp. Đây là vương quốc Thái đầu tiền có nền độc lập, chính là vùng đất phong phú mọi mặt, do các Hoàng để mang tính cách trưởng thượng cai vị, Vua điều hành việc nước có trật tự, khiến muôn dân hài lòng.

Sukhothai là tiêu biểu về bộ lạc Thái sơ khai, lúc xã hội mang hình thức trong sạch. Quốc vương nổi danh cao quý nhất vùng đất Sukhothai là Ramkhachaeng. Nhà vua là đấng cầm quyền đầu tiên của đất nước Thái xóa bỏ những mục đích khắc nghiệt của chính phủ, khởi đầu nêu cao cuộc sống riêng tư của Quốc vương làm điển hình. Ngay thời xuân xanh tuổi 19, nhà vua đã chiếm lĩnh đầu bảng trong chiến dịch sát cánh với Phụ hoàng, chống trả các quốc gia liên bang, nổi bật nhất là trận tử chiến với tên chỉ huy địch, qua cuộc giao tranh giáp lá cà trên thớt voi.

Quốc vương Ramkamhaeng trị vì


Vào năm 1279, quốc vương Ramkhamhaeng lên ngôi, vương quốc Sukhothai nhỏ bé, chỉ bao gồm thành đô Sukhothai và những vùng phụ cận. Nhưng vào cuối thời gian trị vì, nhà vua đã nới rộng lãnh thổ gấp mười lần, từ Luang Prabang trải dài về phía Đông, chạy ngang qua những đồng bằng ở Trung tâm cho đến bán đảo ở phía Nam. Chính quyền Mon thuộc phần bên dưới của Miến Điện (Burma) đành chấp nhận sự kiểm soát của nhà vua. Quốc vương Rakamhaeng nổi tiếng, là một nhà quả lý tài hoa, một nhà Lập pháp sáng suốt, và một chính khách biết nhìn xa thấy rộng, có nhiều lúc, nhà vua tỏ ra một tâm hồn đa tình.

Nhà vua công nhận hệ thống chữ viết của Thái, nhờ hệ thống hóa các mẫu tự của Khmer, và các từ ngữ Thái, nên Quốc Vương hoàn thành tốt đẹp mọi sự kiện. Hệ thống chữ viết được khắt lên đá vào năm 1292, và được sử dụng xem như hệ thống chữ viết tân tiến, mang đặc tính ưu việt của vua Ramkamhaeng. Qua hệ thống chữ viết, được khắc lên đá, Quốc Vương đã mô tả những điều kiện tươi đẹp thuộc Vương Quốc của Ngài, nào là cánh đồng phì nhiêu, thực phẩm vô vùng phong phú, nền thương mãi tự do, cấm ngặt chế độ nô lệ, và bảo đảm tài sản thừa kế. Tuy nhiên, cho đến hiện thời, vẫn còn nhiều nhà chuyên môn, nghi ngờ tính trung thực của hệ thống chữ viết, và cho rằng, hệ thống này được sử dụng cho các tác phẩm sau đó.

Quốc vương Ramkamhaeng là một tín đồ sùng đạo Phật, có ý thức theo học trường, thuộc hệ phái Theravada tại Sukhothai. Suốt thời gian này, đạo Phật đã bành trướng mạnh mẽ và đâm rễ sâu xa vào đời sống dân chúng tại Thái. Vào năm 1287, Vương Quốc Sukhothai tiếp tục sự tiến bộ, khiến quân đội Kublai Khan trở nên hùng mạnh. Vua Ramkamhaeng dựng lên một thỏa hiệp giao cho hai vị Hoàng Tử trấn thủ, hai vùng thuộc phía Bắc. Đó là MangRai của Chiang Rai, và Ngam Muang của Phayo. Hai vị hoàng tử, lấy làm hài lòng, không dám vượt qua vòng lễ giáo, cả hai tương hỗ nhau chống trả quân thù chung. Sự đồng minh cao đẹp duy trì suốt cuộc đời của họ.

Việc tìm thấy Chiang Mai


Vào năm 1292, hoàng tử Mengrai hoàn thành xuất sắc chính sách thống trị quyền lực tại phía Bắc, do sự thông tính vương quốc Mon của Haripunjaya. Đầu tiên, hoàng tử phái một tay sai khiêu khích với nhiệm vụ gieo rắc sự bất hòa, rồi nhắm đúng thời gian thuận lợi, quân đội của Hoàng Tử "vặt long thủ phủ như hái trái chính muồi trên tay". Hoàng tử Mengrai liền mời hai đồng minh của mình trợ giúp ông ta tìm một địa thế thuận lợi, để đặt thủ phủ. Tất cả đều hài lòng qua địa điểm thích hợp, một nơi biểu hiện điều tốt lành thật sự, tại đây xuất hiện hai thú vui mừng nhảy múa.

Một cặp nai lông màu trắng và một gia đình gồm năm chú chuột cũng màu trắng tinh đang sống cùng nhau. Địa điểm này nằm bên cạnh dòng sông Ping. Hoàng tử Mengrai đặt nền móng xây dựng Chiang Mai trở nên thành đô tân tiến vào năm 1296, thay thế thủ đô trước đây của Hoàng Tử tại Chiang Rai, và đem lại cho ông ta một địa thế mang tính cách chiến lược, là trung tâm dễ dàng cai trị phần đất phía Nam nhập vào vương quốc của mình, vừa trải rộng ra một cách mới mẻ.

Sự suy tàn của Sukhothai


Thể theo truyền thống, quốc vương Ramkamhaeng đắm chìm theo dòng nước của con sông Yom, tại Sawankhalok một cách nhanh chóng. Hoàng tử của nhfa vua là Lo Thai ( trị vì từ năm 1318 đến 1347) chuộng sử dụng tôn giáo vào chiến tranh, sự kiện này khiến nhà vua đánh mất các lãnh thổ phong kiến khá nhanh như hồi nào Quốc vương chiếm lĩnh vậy. Nên nhà vua được dân chúng gọi tên là Dharmaraja mang ý nghĩa thâm thúy là "Vị Vua Ngoan Đạo", phẩm chất này liên quan đến các vị vua kế tục, gây ra nhiều chán nản. Mối liên hệ giữa hai vùng đất Sukhothai, và Sri Lanka nãy sinh, trung tâm của Phật giáo chính thống, bộc phát dữ dội suốt thời gian nhà vua cai trị, lịch sử ghi chép rằng, quốc vương Lo Thai đã xây dựng nhiều đền đài, hoàng tộc với di tích thiêng liêng về Phật giáo một cách mới lạ từ Sri Lanka.

Hoàng tử của Lo Thai là Li Thai cũng là một quốc vương ngoan đạo như phụ hoàng vậy. Ngay lúc lên ngôi hoàng đế, nhà vua đã viết nên bản luận án nổi danh, về thuyết vụ trụ của Phật giáo, có tựa đề Traibhumikatha (những chuyện kể về Ba Thế Giới). Khi hoàng tử trở thành Hoàng đế vào năm 1347, nhà vua đã ra luật pháp đúng theo Mười Điều Răn Dạy trong thể của Đức Phật. Quốc vương tha tội cho những kẻ phạm pháp về tội hình sự, giả nhà vua ao ước trở thành Đức Phật, "chỉ dẫn mọi người tranh xa nổi trầm luân bất hạnh và sự luân hồi". Việc tạo ư thế cho tôn giáo áp dụng vào quân sự, ngõ hầu cho phép những sự tiến bộ vượt bậc của một trong những nước chư hầu trước đây tại vùng Sukhothai, chính là Ayutthaya.

Vương quốc thuộc miền Nam bành trướng một cách nhanh chóng, nới rộng việc kiểm soát khắp thung lũng dòng sông Chao Phraya, đến thời quốc vương Li Thai tăng cường về nhận thức quyền lãnh đạo quốc gia. Sự kiện độc lập đất nước của nhà vua bị tước đoạt, khiến quốc vương nổi tiếng sùng đạo phải tìm bóng từ bi của Phật Giáo để ẩn mình, rốt cuộc nhà vua giả danh nhà sư mặc áo cà sa sống tới năm tháng cuối đời. Gia đình của nhà vua trị vì ngôi báu suốt ba thế hệ, nhưng đến năm 1378, quyền lực vị chuyển đổi từ phía Nam cho đến vùng Phitasanulok và nhân dân Sukhothai kéo theo sau.

Vào năm 1438, vùng đất Sukhothai hoàn toàn hoang vắng. Đây là giai đoạn đầu tiên người Thái Lan xuất hiện. Họ mở mang nền văn minh riêng biệt, vùng với việc thành lập chính quyền, nghệ thuật và kiến trúc độc đáo của họ. Hình tượng Đức Phật của họ tại Sukhothai tiêu biểu nét đặc trưng về khuôn mặt, trạng thái lỏng lẻo theo chiều dài, khá hài hòa với hình thức, đó là những sự kiện có lẽ đẹp nhất và sáng tạo nhất, qua sự diễn đạt đầy nghệ thuật của Thái. Nhiều người nói rằng, tính thẩm mỹ của Sukhothai là điểm cao nhất về nền văn minh Thái.

Việc đứng lên của Ayutthaya


Theo lịch sử ghi chép, U - Thong là lãnh địa độc lập của Hoàng Thân Suphan Buri cho đến ngày nay. Các vị cầm quyền của U - Thong là những thành viên đầy uy tín, thuộc dòng dõi quốc vương Chiang Saen. Trong thời gian trị vì của hoàng thân Thya U - Thong có bệnh dịch tả bộc phát, buộc các nhà cầm quyền di tản đến địa điểm mới Ayodhya ( Ayutthaya ) nơi định cư của người Ấn xa xưa, nơi mệnh danh đứng sau Vương Quốc có truyền thuyết Rama tại Ấn Độ. Địa thế của Phya U - Thong là thủ đô mới, rất may mắn có nhiều điều thuận lợi. Thủ đô mới được xây dựng trên hòn đảo tập trung các dòng sông Chao Phraya, Lop Buri và Pasak, không xa biển, và chung quanh là những cánh đồng lúa phì nhiêu bao bọc, chính đây là trung tâm đầu não điều hành về quản trị và giao thông.

Thủ đô Phya U - Thong chính thức thiết lập Thành Đô vào năm 1350, sau ba năm chuẩn bị mọi thứ. Sau đó vài năm, quốc vương kết hợp hoàn toàn bộ thuộc trung ương Xiêm La (Siam) gồm có Sukhothai, dưới thời nhà vua trị vì, quyền hành nới rộng đến bán đảo Mã Lai (Malay) và phần dưới của Miến Điện (Burma), Quốc vương và những vị vua kế tục theo đuổi chiến dịch quân sự, nới rộng lãnh thổ, chống đối Chiang Mai và nền văn minh của Khmer tại Campuchia. Mỉa mai thay, mặc dù người Thái luôn luôn đề cao trách nhiệm, rốt cuộc sự suy tàn và thất bại vẫn xảy đến cho Angkor, thủ đô của Khmer cổ kính vì các Quốc Vương Ayutthaya chụ ảnh hưởng văn hóa của Khmer từ thưở ban đầu.

Chẳng bao lâu, các vị vua cầm quyền biểu lộ tính chất trưởng thượng, có thể sử dụng được, khiến Quốc Vương Sukhothai đã thực thi, vùng có chủ quyền Ayutthaya do các hoàng đế điều hành, những chú tể của đời sống, dựa vào sự hào nhoáng của Hoàng Tộc làm cho cuộc sống lương dân đẹp hơn lên, nổi bật là vị vua Devaraja của Khmer. Thái tử của nhà vua là Ramasuen chiếm được Chiang Mai năm 1390, nhờ sử dụng đại bác, đây là lần đầu tiên loại vũ khí này đưa ra chiến trường ở Xiêm La (Siam). Quân đội tinh nhuệ của vị vua Ramesuen cướp phá Angkor ba năm và theo lịch sử Pongsawadan, Annals thuộc Ayutthaya, có chừng 90.000 tù binh bị cầm giữ. Sự kiện này khiến nền kinh tế tăng trưởng vào thời bấy giờ, vì việc giành được sức lao động của quần chúng và chiếm đoạt được số vàng bạc.

Việc thống trị của hoàng đế Trailak


Suốt hai thế kỷ chiến tranh xảy ra giữa Chiang Mai và Ayutthaya, dẫn đến cao điểm thời trị vì của Quốc Vương Boroma Trailokanth (lên ngôi từ năm 1448 đến 1488). Ngài là vị vua quan trọng có công cải tổ về hình thức của chính quyền và cấu trúc xã hội tại Xiêm La. Từ lúc lên ngôi Hoàng Đế cho đến thế kỷ thứ 19, nhà vua đã khéo léo đem các tỉnh thuộc lãnh thổ Ayutthaya cai trị một cách lỏng lẻo, đặt dưới chính quyền giám sát của Trung Ương và chỉnh đốn, nên được gọi là Sakdi Na. Đây là thống cổ điển rất đắc dụng trong việc sở hữu đất đai mà trước đây đã phân hóa xã hội, nên Quốc Vương đã hạ lệnh cho các lãnh chúa và tá điền phải đề cao trách nhiệm, định rõ mức trả lương theo sự phân cấp chính thức.

Quốc vương Trailok cũng định rõ hệ thống lao động chủ lực, tất cả tráng đinh có đầy đủ sức khỏe, nhà vua yêu cầu đóng góp sức lao động của mình vào công tác hàng năm do quốc gia yêu cầu. Hệ thống lao động này cũng đề cập đến tình trạng của nữ giới, họ có trách nhiệm đối với việc chăm sóc bảo vệ gia đình thân yêu của họ. Bộ luật Hoàng Cung của quốc vương Trailok ban hành năm 1450, giải thích rõ ràng những chức tước có liên quan đến các thành viên trong gia đình. Hoàng tộc ấn định nghi thức của các viên chức và chỉnh đốn những nghi lễ.

Bộ luật này, cũng ấn định những hình phạt bao gồm những án tử hình, dành riêng cho : "Bài thơ giới thiệu gợi dục" phân phát vào Hoàng Cung, hay những lời đồn bậy làm inh ỏi thính giả trong Hoàng Cung. Trong lúc những án phạt này không thể nào thực hiện thường xuyên, nhưng vẫn được tán dương một cách chắc chắn xuyên qua nét mặt của Quốc Vương, để ngăn chặn những kẻ bất lương đối với Hoàng Cung. Giai cấp Hoàng Tộc không được miễn trừ các án phạt, dẫu là bộ luật Hoàng Cung, đã quy định rằng, không có bàn tay nào của chư hầu có thể chạm đến thể xác Hoàng Tộc.

Cuộc xâm lược của người Miến Điện


Thế kỷ thứ 16 đánh dấu lần đầu tiên người Châu Âu đặc chân đến đất Thái Lan, và tiếp tục chiến đấu với người Miến Điện. Người Bồ Đào Nha, tên là Alfonso De Albuquered đem quân chiếm đoạt Malacca vào năm 1511, rồi sau đó tàu chiến của ông ta giăng buồm thẳng tới Xiêm La (Siam). Quốc vương Ramathibodi II (lên ngôi năm 1491 tới 1529) chấp nhận cho người Bồ Đào Nha sinh sống và buôn bán với Vương Quốc, bằng cách trao đổi vũ khí và đạn dược. Quân viễn chinh Bồ Đào Nha, chiến đấu bên cạnh nhà vua qua những chiến dịch quân sự chống lại Chiang Mai, và dạy cho người Thái Lan học hỏi nghệ thuật đúc súng đại bác, và thuật bắn súng trường. Những sự kiện này không thể nào ngăn dòng thủy triều dâng cao, qua việc xâm lược của người Miến Điện vào năm 1549. Nhưng 20 năm sau, Ayutthaya đánh bại lực lượng của Miến Điện.

Khi đó, có vị phò ta cho Quốc Vương bại trận, là Maha Thammaraja được người Miến Điện chỉ định cầm quyền cai trị Xiêm La, như một nước Chư Hầu. Con trai trưởng của ông ta tên là Naresuen, được đưa đến Miến Điện, xem như một sự bảo đảm đối với cách cư xử tốt đẹp của Maha Thammaraja vậy. Người con trai này, được phép hồi hương về Xiêm La lúc 15 tuổi. Naresuen kết hợp với người em trai của ông là Ekatotsarot, bắt đầu tập trung số dân chúng yêu nước. Naresuen đã có hiểu biết sâu rộng, về sức mạnh quân đội và chiến lược của Miến Điện, suốt những năm tháng do sự phát triển cá tính của ông đã thu nhận được. Ông ta rèn luyện quân đội dưới quyền bằng chiến tranh du kích, tạo ra hiệu quả do quân đội giành được dưới biệt danh Cọp Hoang Giả, và Tiểu Hổ Ló Dạng.

Do nội bộ Chaos tại Miến Điện có vấn đề nứt rạn. Rasesuen đã nắm chắc hệ thống phòng thủ và đánh bại tất cả các cuộc xâm lược giành lại nền độc lập cho đất nước. Naresuen nhanh chóng củng cố Vương Quốc Xiêm La, rồi biến thành những cỗ bàn tại Miến Điện, bằng những cuộc tiến công liên tục, làm tan vỡ đế quốc Miến Điện. Dân chúng Khmer đã được uốn nắn dọc phía Đông biên cương, của Xiêm La, suốt giai đoạn mà Ayutthaya tỏ ra yếu hèn. Vùng Ayutthaya khá thịnh vượng trở thành một thủ phủ phát đạt, được các du khách Châu Âu diễn tả là một thành đô rực rỡ và sống động vào thể kỷ thứ 17.

Cửa mở rộng người Châu Âu bước vào Phương Đông


Bào huynh của Naresuen là Ekatotsarot lên ngôi giữa các năm 1605 đến 1610, đồng thời người Hà Lan đặt chân đến đất Xiêm La. Hoàng đế Ekatotsarot không quan tâm đến sự kiện, bằng cách theo đuổi chính sách quân sự của Naresuen để lại, nhà vua đã cố đạt được sự phát triển kinh tế cho vùng Ayutthaya. Người Hà Lan mở ra những vị trí thương mại đầu tiên tại Ayutthaya vào năm 1608. Thời đại hòa bình chân chính đã khởi đầu do hoàng đế Naresuen tìm cách nâng cao số tài sản thặng dư, qua sự kiện này đòi hỏi trong xã hội người Thái, cần nhập khẩu theo những mục có tính cách xa xỉ như đồ sành, và hàng tơ lụa. Người Hà La đã thiết lập ưu thế tuyệt đối, về hàng hải có hiệu quả rõ rệt, để thâm nhập vào vùng Viễn Đông, khi họ đuổi người Bồ Đào Nha ra khỏi Malaca vào năm 1641.

Về sau, người Hà Lan thuyết phục người Thái cần hài hòa trong việc nhượng bộ thương mãi, trao cho người Hà Lan thực sự kiểm soát kinh tế tại Xiêm La. Quốc vương Narai (lên ngôi năm 1645 tới 1688) có ý khinh thường người Hà Lan, nên đã đón tiếp người An bước vào, xem như một liên minh để phản công ảnh hưởng lớn mạnh của người Hà Lan nổi lên trong vùng. Nhưng vào năm 1664, có những người Hà Lan khác lại phong tỏa, vào thời điểm này, tại cửa khẩu thuộc dòng sông Chao Phraya, họ đã chiến thắng những người kia, bằng sự độc quyền buôn bán theo phương cách che giấu thương mãi. Chính đây, là lần đầu tiên trogn lịch sử của Thái Lan, những đặc lợi mang tính đặc quyền ngoại giao.

Sự ưa thích của người Hy Lạp


Đó là người Pháp, đã đạt được sự quan tâm lớn nhất, đối với triều đình của Quốc vương Narai. Câu chuyện của họ xem như gắn bó keo sơn với các nhà mạo hiểm phiêu lưu, những người cơ hội chủ nghĩa và những kẻ xâm nhập, tạo nên danh xưng Constantine Phaulkon. Phaulkon đến Xiêm La vào năm 1678, ông ta là một nhà ngôn ngữ có tài, theo học tiếng Thái trong vòng 2 năm, qua sự trợ giúp của các nhà hảo tâm người Anh, rồi Phaulkon được mướn như một thông ngôn tại triều đình. Trong vòng 5 năm, ông ta được thăng lên cấp bậc thuộc hàng Phya Vijayendra trong xã hội Thái Lan. Khi Phaulkon chiếm giữ chức tước có nhiều quyền uy, ông ta tiếp bước đến với quốc vương, trở nên nhân vật được tin cẩn, khiến ông ta phát triển tài năng một cách chậm chạp nhưng chắc chắn.

Ngay khi Phaulkon di chuyển một cách rõ ràng, xác đáng vào những nơi trú ngụ của người Pháp, như thế ông ta cũng làm việc giúp cho quốc vương Narai vậy. Ông ta phái hai đặc sứ toàn quyền giữa hai triều đình vua Louis và hoàng đế Narai, có đội tàu chiến đặc nhiệm của Pháp tháp tùng với phái bộ người Pháp và người Thái, dùng tàu chiến vào Xiêm La. Thể theo lời khuyên của Phaulkon, một lực lượng gồm 500 quân viễn chinh người Pháp có kỷ luật sắc bén và được trang bị vũ khí đầy đủ, đã được lệnh đổ bộ đúng theo luật pháp ấn định do quốc vương hành xữ. Tiếp theo là sự khởi đầu chống đối ảnh hưởng của Phaulkon và cuộc sống hoang phí của ông ta gây ra. Sự không ưa thích ông ta đã châm ngòi chờ phát nổ, không những chỉ sự hiện diện quân đội, người Pháp có triệu chứng sâu xa, mà còn gây thêm tiếng đồn cho rằng, Phaulkon đã thay đổi người con nuôi của hoàng đế Narai theo đạo Cơ Đốc, với dự định lên ngôi vua thành công an toàn.

*** Xem thêm : Lịch sử Thái Lan từ thời kỳ Sukhothai đến Auyutthaya như thế nào ?

Khi hoàng đế Narai sụp đổ vì bệnh vào năm 1688, một phe nhóm chống đối người Pháp, tiêu biểu cho quốc gia có chủ quyền đứng lên hành động. Quốc vương không được khỏe mạnh bị cầm giữ trong dinh thự của nhà vua. Phaulkon bị bắt vì can tội phản quốc, tháng 6 năm 1688 ông ta được xét tha tội và ra khỏi Lop Buri. Một tháng sau, quốc vương Narai băng hà. Rốt cuộc Pháp di chuyển quân đội của họ khỏi Thái Lan. Sự hiện diện của người Châu Âu suốt thời gian trị vì của Hoàng đế Narai, nhà vua đã cho phép người phương Tây hiểu biết nhiều về đất nước Xiêm La.

Nền văn học rộng rãi đã nảy sinh, do các quan khách từ phương Tây đến với triều đình Narai. Sự cố gắng của họ qua thuật vẽ bản đồ, mà thành tích còn lưu trữ qua sự xuất hiện của Ayutthaya, dù chỉ có vài bản đồ được cất giữ. Nhưng dinh thự của hoàng gia và hàng trăm đền đài, chen chúc nhau trong những bức tường thành vây quanh hòn đảo, trong đó thủ đô được dựng lên. Cũng có những chứng cứ bộc lộ rõ những thuyền rồng của Hoàng gia được trang trí bằng mạ vàng, và nhiều tay chèo thuyền. Những du khách từ phương Tây, đến đã lên tiếng gọi nơi này là "Thủ Đô đẹp nhất của phương Đông", hoàng đế Narai cuối cùng đã chủ trương với chính sách mở cửa. Một tổng giá trị khiêm tốn, qua việc thương mãi được duy trì và cho phép các giáo sĩ truyền đạo được trú ngự, nhưng vương quốc Ayutthaya khởi xướng giai đoạn cô lập kéo dài 150 năm.

Thời đại vàng son


Dẫu cho việc trị vì ngôi báu của quốc vương Boromakot (vào năm 1733 đến 1758) nảy sinh cuộc chống đối dữ dội một cách đặc biệt vì quyền lực. Nhiệm kỳ 25 năm của quốc vương Boromakot được xem là nền hòa bình đặc sắc, và trở nên nổi tiếng là thời đại vàng son của Ayutthaya. Các thi sỉ và các nghệ sĩ xuất hiện rất nhiều tại các triều đình của nhà vua, cho phép nền văn hóa và nghệ thuật phát triển phong phú. Xuyên qua những năm tháng bình yên, chứng tỏ thời kỳ êm ả trước khi bão tố đi qua. Thái tử của quốc vương Boromakot là Ekatat bước lên ngai vàng vào năm 1758, sau cuộc chiến đấu thành công vĩ đại với bào huynh.

Trong lúc đó, người Miến Điện một lần nữa thấy rõ Ayutthaya. Năm 1767, họ xâm chiếm và bao vây Ayutthaya khá thành công trọng 14 tháng ròng rã. Tiếp diễn, Miến Điện sát nhân, cướp của, và nổi lữa đốt toàn bộ thành phố, bởi thế nền văn minh của người Thái bị xóa sổ trong bốn thế kỷ. Lực lượng Miến Điện cướp bóc, nhiều đền đài giàu có tại Ayutthaya, gom góp những tượng Phật làm bằng vàng, đem nấu chảy để lấy nguyên liệu vàng ròng. Có 90.000 thành viên của Hoàng Gia bị giam giữ và chiến lợi phẩm cướp bóc được đưa về Miến Điện.

Mặc dù, chiến thắng ngập tràn, nhưng quân đội Miến ĐIện không đồn trú lâu dài để kiểm soát. Một vị tướng trẻ tên là Phya Tak Sin, dân chúng ưa gọi là Taksin, tập trung những băng nhóm nhỏ nguyện theo ông ta thành một lực lượng chiến đấu suốt cuộc bao vây thủ đô Thái Lan của người Miến Điện. Ông ta nhận thức, người Xiêm đang ở trong tình trạng tuyệt vọng. Nên ông ta và những thân hữu hợp lực, tìm cách phá vỡ vòng vây của quân đội Miến Điện, trốn đến bờ biển phía Đông Nam. Tại đây, vị tướng trẻ tập trung quân đội và chiến thuyền. Chỉ có bảy tháng sau khi Ayutthaya sụp sổ, tướng tài Taksin chỉ huy lực lượng của ông ta trở lại Thủ Đô Thái Lan, và tống khứ quân đội Miến Điện ra khỏi đất nước.

Di chuyển đến Bangkok Thái Lan


Vị tướng lỗi lạc Taksin, chỉ vừa đủ thời gian vỏn vẹn một đêm tại Ayutthaya, khi ông ta quyết định chuyển đổi địa điểm thành lập thủ đô của ông. Một vị trí thích hợp gần biển hơn, có tính cách chiến lược ưu thế, được lợi về thương mãi với nước ngoài, và bảo đảm tìm mua vũ khí dễ dàng. Vị trí này, giúp việc phòng thủ và rút lui thích hợp. Suốt thế kỷ thứ 17, một làng ngư dân thuộc Bangkok, tọa lạc trên dòng suối, đã trở thành một thương trường quan trọng và một tiền đồn phòng thủ kiên cố cho Ayutthaya. Tại đây, nhờ sự hiện diện của người Pháp giúp, nhiều vị trí phòng thủ mọc lên vững chắc. Sự định cư của quần chúng tập trung suốt hai bờ sông Chao Phraya, tại một nơi có kênh ngắn được đào rộng ra, trở thành dòng sông chính.

*** Xem thêm : Tour du lịch Thái Lan giá rẻ

Trên bờ sông phía Tây tại Thonburim, tướng Taksin thiết dựng thủ đô mới của ông ta và tại đây, ông ta tuyên bố lên ngôi Hoàng Đế. Quốc vương cai trị đến năm 1782. Bảy năm cuối cùng trên ngôi báu, nhà vua đã dựa vào hai vị tướng tín nhiệm đầy nghiêm khắc, đó là những bào huynh Chao Phya Chakri và Chao Phya Sarasih, nhà vua đã trao quyền cho hai vị tướng chỉ huy những chiến dịch quân sự. Hai vị tướng đã giải phóng Chiang Mai và phần còn lại phía Bắc Thái Lan, thoát khỏi sự cai trị của người Miến Điện, đem Campuchia và hầu hết lãnh thổ của Lào có ngày hôm nay, đặt dưới quyền bá chủ của Thái Lan.

Viên Ngọc Lục Bảo Tượng Đức Phật


ThaiLand có được viên Ngọc Lục Bảo Tượng Đức Phật (Phra Kaeo) do chiến dịch quân sự chiến thắng người Lào. Tướng Chao Phya Chakri đem tượng Phật từ Vientiane đến Thonburi vào năm 1779. Chính là viên ngọc bích được chạm trổ dựa theo hình ảnh mang tính gán ghép, được tìm thấy tại Chiang Rai vào năm 1436, ở bên trong ngôi chùa bị tấn công bất ngờ, do vữa hồ bao phủ bên ngoài, pho tượng dần dần bong ra, bên trong phơi bày những hình dạng viên ngọc bích. Người Thái Lan, giữ gìn viên Ngọc Lục Bảo Tượng Đức Phật, xem như một trong nhiều pho tượng thiêng liêng nhất và dân tộc Thái Lan tin tưởng, rằng nhờ viên ngọc, nền độc lập thịnh vượng của quốc gia được đảm bảo.

Tại Thonburi, nhân cách của quốc vương Taksin trải qua nhiều biến đổi, từ sức mạnh vô song, đến hành động tàn bạo và nhiều sự kiện không thể đoán trước. Khi cuộc nổi loạn bị dập tắt vào năm 1782, quốc vương Taksin thoái vị, và bước vào tu viện hành đạo. Một nhân vật thứ yếu đã điều hành cuộc nổi loạn thành công, dâng ngai vàng cho tướng Chao Phya Chakri sắp trở về sau chiến dịch quân đội đánh thắng Campuchia. Tướng Chakri bắt đầu hoạt động vương quyền, vào ngày 6 tháng 4, một ngày tưởng nhớ là ngày Chakri, thiết lập triều đại Chakri.

*** Xem lại : Khởi nguyên triều đại Chakri và vương quốc Ayutthaya
*** Xem thêm : Thời kỳ Bangkok của triều đại vua Rama I tới Rama IX như thế nào ?

Nguồn : Hoàng Văn Quang

Searches related to thu do bangkok thai lan

sự hé rạng thái lan
thủ đô băng cốc
bangkok thailand
thủ đô băng cốc của thái lan
bangkok wikipedia
bangkok history
thủ đô của bangkok
khám phá thủ đô bangkok



DMCA.com Protection Status
Links topic : https://www.tampacific.com/2018/09/su-he-rang-cua-thu-do-bangkok-thai-lan.html
- -
CHUYÊN MỤC

Loading...
  • Google Comment (0)
  • Facebook Comment ()