THÁI LAN - CAMPUCHIA - SINGAPORE MALAYSIA INDONESIA Gọi ngay 0911.46.33.89 hay 01283.98.69.98 NGUYỄN THANH TÂM
Thể chế là một trong những đối tượng nghiên cứu chính của các ngành khoa học xã hội, bao gồm cả triết học, chính trị học, kinh tế học, nhân chủng học, và xã hội học. Từ đó, đã hình thành nên các trường phái lý thuyết khác nhau về thể chế. Thuật ngữ thể chế được sử dụng từ nhiều thập kỷ nhưng các nhà nghiên cứu vẫn chưa có khái niệm thống nhất về thể chế. Có cách định nghĩa về thể chế bao gồm các luật lệ, cơ chế thực thi và các tổ chức, thể chế www.tampacific.com là tập hợp các quy tắc chính thức và không chính thức điều chỉnh hành vi, ứng xử của con người, các quy tắc này bao gồm các luật, quy định và hệ thống định chế thực thi các luật và quy định đó, và thể chế cũng bao gồm cả các nguyên tắc chính trị hay thể chế chính trị, là thể chế tạo ra các luật lệ nói trên, nó bao gồm cả các chuẩn mực văn hóa định hướng, cách thức ứng xử của con người như niềm tin, đạo đức, ... Bạn đang xem bài viết Quan Niệm Thể Chế Pháp Luật Kinh Tế là gì ?

Quan niệm về Thể Chế Pháp Luật Kinh Tế
Có định nghĩa khác về thể chế bao gồm các quy tắc, và cách thức ứng xử, trong đó có các luật, còn các tổ chức là những thực thể mà ở đó các thành viên thống nhất trong hành động, nhằm theo đuổi một mục đích chung, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế ( International Monetary Fund - IMF ) định nghĩa thể chế là tập hợp các quy tắc, luật lệ (chính thức, phi chính thức, khách quan, chủ quan, kinh tế, chính trị hay văn hóa, ...) tạo thành khuôn khổ cho quan hệ và trao đổi của con người, tạo đòn bẩy khuyến khích, định hướng cho các thành viên của xã hội.

Tổ chức Hợp Tác Phát Triển Quốc Tế Thụy Điển ( Sida ) phân biệt khái niệm thể chế và tổ chức, thể chế được định nghĩa là các quy tắc hành vi điều chỉnh các quan hệ xã hội, điều chỉnh các hành vi của các chủ thể trong mối quan hệ với các chủ thể khác, hình thành nên luật chơi mà ở đó, các chủ thể bao gồm các cá nhân và tổ chức, là người chơi. Các nhà kinh tế học về thể chế ( institutional economists ) tại các nghiên cứu độc lập của mình, cũng đã đưa ra các định nghĩa tương tự :

Thể chế là hệ thống các yếu tố xã hội kết nối với nhau, tạo nên quy tắc hành động chung, các yếu tố này là các yếu tố phi vật thể, do con người tạo nên, có tác động ngoại sinh đối với mỗi cá thể mà chúng tác động, bao gồm cả luật lệ, niềm tin, các nguyên tắc và các tổ chức, là luật chơi, là những áp đặt do con người đặt ra, đối với các quan hệ giữa người và người, bao gồm các áp đặt chính thức ( quy định, luật, điều lệ ) và không chính thức ( quy tắc ứng xử, quy tắc hành động bản thân tự áp dụng ) và cơ chế thực thi.

Trong phạm vi nghiên cứu của tài liệu này, các tác giả tập trung phân tích thể chế pháp luật kinh tế các quốc gia được lựa chọn, mà ở đó thể chế pháp luật kinh tế được hiểu dưới góc độ bao gồm các quy định pháp luật kinh tế. Trong thập nhiên 1980, chịu sự ảnh hưởng của pháp luật từ các quốc gia thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa, ở Việt Nam đã hình thành quan niệm về ngành luật kinh tế độc lập, với pháp luật dân sự và các ngành luật khác, trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa. Có nguồn gốc từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các quan hệ kinh tế được hình thành trên cơ sở mệnh lệnh hành chính, bảo đảo sự thống trị của khu vực kinh tế nhà nước, và kinh tế tập thể, hạn chế tự do khế ước, thủ tiêu kinh doanh.

Trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước, quan niệm về pháp luật kinh tế như một ngành luật độc lập ở Việt Nam, cũng đã dần mai một. Người ta nhận thấy rằng, việc tách biệt pháp luật kinh tế khỏi pháp luật dân sự cản trở tính nhất quán, logic của hệ thống pháp luật. Thay vào đó, những quan niệm mới với cách tiếp cận rộng, và linh hoạt hơn về pháp luật kinh tế đã được hình thành. Pháp luật kinh tế không còn được xem là một ngành luật độc lập, mà có phạm vi rộng hơn. Trước hết, đó là những quy phạm liên quan đến sự hình thành, tồn tại và vận hành của doanh nghiệp, như thành lập doanh nghiệp, gia nhập thị trường, tiến hành kinh doanh và rút khỏi thị trường. Trong khuôn khổ tư duy đó, những vấn chính của pháp luật kinh tế có thể bao gồm :

- Pháp luật doanh nghiệp.
- Pháp luật hợp đồng trong kinh doanh.
- Pháp luật giải quyết tranh chấp trong kinh doanh.
- Pháp luật về phá sản doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, pháp luật kinh tế còn bao gồm những vấn đề liên quan đến quản lý kinh tế công cộng ( như quản lý thị trường, quản lý chất lượng, quản lý quy hoạch phát triển, chính sách hỗ trợ, chính sách giám sát, chính sách chống phá giá, ... ); pháp luật về các lĩnh vực kinh tế ( thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán,... ); pháp luật về các hợp đồng chuyên biệt ( mua bán hàng hóa, gia công, trung gian, tiêu thụ, vận tải và hậu cần, thuê mua, quảng cáo,... ); pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền; pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng; pháp luật về kinh tế quốc tế; pháp luật trọng tài và những lĩnh vực pháp luật khác.

Quan niệm này ngày càng trở nên phổ biến hơn ở Việt Nam. Thực tiễn lập pháp của nước ta trong thời gian qua, cũng cho thấy sự phát triển của pháp luật kinh tế theo hướng này. Tuy nhiên, đứng trước nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, và pháp luật kinh tế nói riêng, thì việc nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia khác, có ý nghĩa tham khảo hết sức quan trọng, cho tiến trình phát triển của pháp luật trong nước, nhất là trong bối cảnh hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho nền kinh tế thị trường, và hội nhập kinh tế quốc tế.

Trong nghiên cứu này, việc lựa chọn những quốc gia để nghiên cứu cũng đã thể hiện mong muốn của các tác giả, nhằm có được một bức tranh đa dạng nhất về pháp luật kinh tế, thuộc các hệ thống khác nhau, bao gồm Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Cộng Hòa Liên bang Đức, Úc, Hàn Quốc, Malaysia và Cộng hòa Liên bang Nga, xét trên các yếu tố về chính thể, hệ thống pháp luật, vị trí địa lý cũng như trình độ phát triển. Có thể nhận thấy quan niệm về phạm vi của pháp luật kinh tế ở các quốc gia này, cũng tương đối tương đồng. Mặc dù ở hầu hết các quốc gia đều không có khái niệm chính thức về pháp luật kinh tế, nhưng đều bao gồm các cấu thành cơ bản như :

- Pháp luật về đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
- Pháp luật về phát triển các loại thị trường.
- Pháp luật về sở hữu.
- Pháp luật về các loại hình doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế.
- Pháp luật về hợp đồng.
- Pháp luật về các cơ quan quản lý, điều tiết kinh tế.
- Pháp luật về giải quyết tranh chấp.

*** Quốc gia : Hoa Kỳ
Vị trí địa lý : Bắc Mỹ
Chính thể : Cộng hòa tổng thống
Hình thức nhà nước : Liên bang
Hệ thống pháp luật : Anh - Mỹ ( hệ thống thông luật )

*** Quốc gia : Đức
Vị trí địa lý : Châu Âu
Chính thể : Cộng hòa nghị viện
Hình thức nhà nước : Liên bang
Hệ thống pháp luật : Châu Âu lục địa ( hệ thống dân luật )

*** Quốc gia : Úc
Vị trí địa lý : Châu Đại Dương
Chính thể : Cộng hòa nghị viện
Hình thức nhà nước : Liên bang
Hệ thống pháp luật : Anh - Mỹ ( hệ thống thông luật )

*** Quốc gia : Hàn Quốc
Vị trí địa lý : Đông Bắc Á
Chính thể : Cộng hòa hỗn hợp
Hình thức nhà nước : Đơn nhất
Hệ thống pháp luật : Châu Âu lục địa ( hệ thống dân luật )

*** Quốc gia : Malaysia
Vị trí địa lý : Đông Nam Á
Chính thể : Quân chủ lập hiến
Hình thức nhà nước : Liên bang
Hệ thống pháp luật : Anh - Mỹ ( hệ thống thông luật )

*** Quốc gia : Liên Bang Nga
Vị trí địa lý : Châu Âu
Chính thể : Cộng hòa hỗn hợp
Hình thức nhà nước : Liên bang
Hệ thống pháp luật : Châu Âu lục địa ( hệ thống dân luật )

Điều này cho thấy quan niệm về pháp luật kinh tế của các quốc gia, bao gồm cả những quy định liên quan đến việc điều chỉnh, những quan hệ kinh tế gắn liền với sản xuất - kinh doanh của các chủ thể kinh doanh, và liên quan đến chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước, với tư cách là chủ thể của quyền lực công cộng. Tuy nhiên, trong từng cấu thành nhỏ này, cách thức tiếp cận của từng quốc gia có những điểm khác biệt. Chẵng hạn, pháp luật về hợp đồng của những quốc gia theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, chịu ảnh hưởng bởi các triết lý về hợp đồng của pháp luật La Mã, lấy Bộ luật dân sự là bộ luật gốc, và từ đây phát triển thành các chuyên ngành khác. Trong khi đó, pháp luật hợp đồng của những quốc gia theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ chủ yếu được hình thành từ nguồn án lệ đồ sộ từ cấp bang đến cấp Liên Bang.

Chính từ sự linh hoạt và đa dạng trong cách thức tiếp cận về pháp luật kinh tế như vậy, nên không có một câu trả lời thống nhất ở các quốc gia được nghiên cứu về nguồn luật, để bảo đảm sự hoàn thiện thể chế pháp luật kinh tế. Chẳng hạn, xét về số lượng văn bản Nhà nước đã ban hành, số lượng văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh một số lĩnh vực kinh tế do Quốc Hội Hoa Kỳ ban hành từ năm 1973, cho đến nay bao gồm khoảng 1.793 văn bản. Trong khi đó, tại Úc ở cấp độ Liên Bang có khoảng 800 luật và 21.000 thông tư pháp luật về kinh tế.

Bạn nên xem tiếp bài viết: Các yếu tố tác động đến Thể Chế Pháp Luật Kinh Tế của các quốc gia
Tại bài viết Các lý thuyết về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và pháp luật

Các tìm kiếm liên quan đến Thể Chế Pháp Luật Kinh Tế

giáo trình pháp luật kinh tế
tài liệu pháp luật kinh tế
pháp luật kinh tế là gì
bai tap pháp luật kinh tế
đề thi môn pháp luật kinh tế có đáp án
pháp luật kinh tế học viện tài chính
pháp luật kinh tế ở việt nam hiện nay
khái niệm pháp luật kinh tế


DMCA.com Protection Status
Links topic : http://www.tampacific.com/2018/01/quan-niem-ve-the-che-phap-luat-kinh-te.html
- - 0 bình luận
CHUYÊN MỤC

Loading...
  • Google Comment (0)
  • Facebook Comment ()
  • Một số lưu ý khi bình luận

    Mọi bình luận sai nội quy sẽ bị xóa mà không cần báo trước (xem nội quy)

    Bấm Thông báo cho tôi bên dưới khung bình luận để nhận thông báo khi admin trả lời