THÁI LAN - CAMPUCHIA - SINGAPORE MALAYSIA INDONESIA Gọi ngay 0911.46.33.89 hay 01283.98.69.98 NGUYỄN THANH TÂM
Con người - Chủ/Khách thể của Văn Hóa - Văn Hóa và Văn Hóa Học. Một trong những khía cạnh cần xem xét của vấn đề là quan hệ giữa con người và văn hóa. Mối quan hệ này được bộc lộ ra ở ba khía cạnh quan trọng: Con người với tư cách là chủ thể sáng tạo của văn hóa, Con người cũng là sản phẩm của văn hóa, Con người cũng là đại biểu mang giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra. Như vậy, con người vừa là chủ thể nhưng vừa là khách thể của văn hóa. Có nhìn nhận văn hóa như một chỉnh thể thống nhất, chúng tạ mới lí giải được mối quan hệ hữu cơ giữa con người với xã hội, giữa con người với tự nhiên. Liên hệ đăng ký tour du lịch nước ngoài, bạn có thể liên lạc trực tiếp với anh Nguyễn Thanh Tâm www.tampacific.com tại số hotline 0911463389 hay số điện thoại cá nhân là 01283986998 để đăng ký tour du lịch nước ngoài giá rẻ.

Con người - Chủ/Khách thể của Văn Hóa - Văn Hóa và Văn Hóa Học

Trong những mối quan hệ ấy, con người là chủ thể, là trung tâm, như mô hình phía trên. Thế nhưng, từ trước đến nay cả ba thành tố trong mô hình này, không phải đã được mọi người, mọi thời nhìn nhận một cách nhất quán.

1. Những định nghĩa khác nhau về con người


Trong trường kì lịch sử, những câu hỏi "Ta từ đâu đến? Ta đi đến đâu?" là những câu hỏi ám ảnh loài người từ muôn đời nay và loài người luôn tìm cách giải đáp những câu hỏi này bằng các huyền thoại, sáng thế luận, học thuyết triết học, tôn giáo v.v… Trong tư tưởng phương Đông, con người là vũ trụ thu nhỏ "Nhân thân tiểu thiên địa" (Lão Tử). Con người là sự thống nhất của không gian và thời gian. Con người bao gồm cả vũ – không gian (trên dưới) và trụ – thời gian (xưa qua nay lại).

Theo mô hình tam phân (bộ ba) hay thuyết Tam, Tài, con người là một trong ba ngôi ba thế lực của vũ trụ bao la tức Thiên – Địa – Nhân. Người nối liền trời với đất, dung hòa hai cực đối lập ấy để đạt được sự hài hòa hợp lí: "Thiên thời – địa lợi – nhân hòa". Trong hệ thống quan niệm của Phật giáo, người và muôn loài là bình đẳng, khác với quan niệm phương Tây cổ truyền cho con người là trung tâm vũ trụ, chúa tể của muôn loài. Quan niệm về con người của triết học phương Đông là: "Tam tài", "'Vạn vật tương đồng", "Thiên nhân hợp nhất" và quan niệm của Phật giáo cho rằng con người bình đẳng với muôn loài, hoàn toàn tương đồng với xu thế phát triển của sinh thái học hiện đại và sinh thái học văn hóa.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử nhìn con người như một thành tố đã tồn tại trong nhiều mối quan hệ xã hội như định nghĩa của Các Mác: "Trong tính thực tiễn của nó, con người là sự tổng hòa các quan hệ xã hội". Một số nhà nghiên cứu cho rằng định nghĩa này đúng nhưng để hiểu Các Mác hơn cần nhớ, năm 1865, khi hai cô con gái Laura và Jenny Mác đặt câu hỏi với bố: "Châm ngôn ưa thích nhất của bố là gì? ". Mác đã trả lời bằng một câu nổi tiếng của thời cổ đại La Mã: "Không có cái gì của con người, mà tôi lại coi nó như xa lạ đối với tôi".

Trong thời đại tin học, người ta hay sử dụng khái niệm con người nhiều chiều (Multidimension). Khái niệm này về thực chất thể hiện quan niệm trên của Các Mác. Con người nhiều chiều ở đây có thể hiểu con người trong các chiều hướng tự nhiên – xã hội, gia đình – xã hội, hành động – tâm linh, con người – chính mình. Trong khoa học sinh thái, con người được đặt trong sinh quyển, là một thành viên đặc biệt trong sinh quyển, do bản chất sinh vật phát triển hoàn hảo nhất và do bản chất văn hóa chỉ có ở con người. Con người cùng với quả đất là một hệ sinh thái. Tuy vậy do vị trí thuộc nhóm sinh vật tiêu thụ ăn tạp (con người là một kẻ tiêu thụ đặc biệt tham lam nhất và tàn nhẫn nhất – ăn, phá, khai thác và biến đổi tự nhiên) nên con người hầu như không có đóng góp gì đáng kể cho quá trình tiến hóa của sinh quyển cũng như cho sự phát triển của hệ sinh thái, ngoài sự tồn tại và phát triển của chính xã hội của mình.

Từ thế kỉ XVIII B.Franklin đã định nghĩa con người là "động vật làm ra công cụ". Cho đến trước năm 1960 hầu hết các nhà khoa học đều đã nghĩ như vây. Song những kết quả quan sát và nghiên cứu tập tính của các loài động vật cấp cao ở điều kiện thí nghiệm và điều kiện tự nhiên cho thấy ở những tình huống nhất định, một số loài đã sử dụng đá, cành cây… (như vượn – người chimpanjé). Như vậy, mầm mống sử dụng công cụ đã xuất hiện ở con vật. Nhiều học giả phương Tây đã lợi dụng kết quả nghiên cứu đó để chống lại học thuyết về vai trò của lao động trong quá trình biến chuyển từ vượn thành người. Vì thế, điểm mấu chốt là phải làm rõ những điều kiện và tình huống môi trường tự nhiên, xã hội của hai hoạt động này.

Động vật sử dụng công cụ "ngẫu nhiên" không hệ thống, hay không muốn làm theo hệ thống và không bắt buộc. Con người sử dụng và chế tạo công cụ một cách có ý thức, có hệ thống và với một sự bắt buộc để có thể tồn tại do đã bị mất đi những khả năng thể lực. Hay "Con người còn tỏ ra là động vật duy nhất đã biết "chọn" cách thích nghi để phát triển hệ thần kinh tới mức đó (tư duy, chế tạo, công cụ, ngôn ngữ), trong khi các động vật khác đã chọn cách biến đổi tứ chi của chúng để cải thiện dinh dưỡng. Con người giữa toàn bộ thế giới động vật là loài đã phát triển được bộ não". Ta có thể bổ sung thêm định nghĩa của B.Franklin "con người sơ khai – một loài linh trưởng biết chế tạo và sử dụng một cách hệ thống các công cụ bằng đá, tre, gỗ…"

Con người vừa là cá nhân không thể chia cắt được, vừa là một sinh vật xã hội. Đặc điểm của con người là sống cùng nhau, sống với nhau, thành một cộng đồng. Tuy thế loài vật cũng sống cùng nhau, sống với nhau, như vậy con người không phải là kẻ độc quyền về tính xã hội. Song, tính xã hội của con vật được di truyền theo bản năng, không thay đổi, bất di, bất dịch từ ngàn đời nay. Tính xã hội của con người được truyền qua con đường sinh học, và con đường văn hóa (thông qua trau dồi, tu dưỡng, giáo dục). Tính xã hội của con người là quá trình với những nguyên lí và cấp độ diễn biến phức tạp. Trong tất cả các loài "Con người là sinh vật có tính xã hội cao nhất" (F. Ăngghen). Con người luôn luôn sống trong hai thế giới, thế giới thực và thế giới biểu tượng. Đặc điểm riêng của con người, theo L.A.White, chính là năng lực biểu trưng của tư duy con người.

2. Sự nhìn nhận vai trò của con người


Chúng ta nói văn hóa trước hết phải nói tới con người. "Trong toàn bộ sự phát triển xã hội, con người luôn luôn tồn tại với hai tư cách: vừa là chủ thể, vừa là đối tượng. Với tư cách là chủ thể, con người thực hiện sự phát triển của xã hội, mà trước hết là sự phát triển lực lượng sản xuất. Với tư cách là đối tượng, con người hưởng thụ những thành quả của sự phát triển đó. Không có con người thì không có sự hưởng thụ cũng không có sự cống hiến – nghĩa là không có sự phát triển. Dĩ nhiên giả thiết ấy là không thể có được, nhưng nó cho thấy một điều trong tất cả những gì có thể nói được về sự tiến hóa của lịch sử trên trái đất con người là trung tâm. Hơn nữa cái vị trí trung tâm đó được đảm bảo bằng hai vế – cống hiến và hưởng thụ. Ở con người, với tư cách là con người hai vế này có sự gắn bó chặt chẽ và luôn luôn cần giữ được sự cân đối trong từng hoàn cảnh lịch sử".

Như vậy từ góc độ văn hóa, ta thấy con người một mặt sáng tạo ra văn hóa (nghĩa vụ), mặt khác con người là đối tượng của văn hóa (quyền lợi – văn hóa vì con người). Vì thế, dần dà, nhân loại càng nhận ra vai trò của con người và càng ngày vai trò của con người càng được đánh giá cao. Ở Liên Xô (cũ), trước hiến pháp Xtalin 1936, Xtalin có một luận điểm, trong đó nêu vấn đề con người là quyết định. Ở Việt Nam, đã có lúc khoa học xã hội Việt Nam ít, hoặc còn né tránh chuyện nghiên cứu những vấn đề về con người Việt Nam. Tình hình đó đã thay đổi đặc biệt từ sau Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam. Yếu tố con người ngày càng được coi trọng.

Nhiều trí thức Việt Nam đã nêu ý kiến: chiến lược đấu tiên là chiến lược về con người. Nhiều học giả của các ngành khoa học xã hội, nhân văn tham gia soạn thảo cuốn Chiến lược con người. Con người là động lực, con người làm ra văn hóa, kinh tế xã hội. Nhiều ngành khoa học có liên quan tới con người Việt Nam như sử học, văn học, đạo đức học, tâm lí học, giáo dục học, xã hội học,… đã đạt được không ít thành tựu trong nghiên cứu về con người Việt Nam với tư cách là đối tượng của ngành mình. Trong đó đáng lưu ý là đề tài khoa học cấp Nhà nước KX–07 "con người với tư cách là mục tiêu và động lực phát triển kinh tế xã hội".

"Con người ở khắp mọi nơi đều giống nhau vì họ đều là con người". Đó là nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa nhân văn triết học, con người có quyền bình đẳng với nhau trên khắp hành tinh. Tuy vậy khi chuyển khái niệm con người sang các ngành khoa học xã hội, nhân văn có tính phân tích ta lại phải đối diện với những hiện thực khác, trong đó con người là giống nhau, đồng thời là khác nhau, bởi vi họ ở trong những tập hợp người đủ mọi kiểu, họ mang trong mình dấu ấn dân tộc, chế độ xã hội, đặc điểm thời đại, địa lí, giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp. Khái niệm con người được nhìn nhận từ các góc độ khác nhau, tùy thuộc vào vấn đề tiếp cận. Điều đó cũng bắt nguồn từ tính đa dụng vô cùng của con người trong sự thống nhất hiển nhiên của giống loài.


Các tìm kiếm liên quan đến "Văn Hóa và Văn Hóa Học"

văn hóa gốc nông nghiệp và văn hóa gốc du mục
chủ thể văn hóa là gì
những biểu hiện của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp
định vị văn hóa việt nam
không gian văn hóa việt nam
văn hóa nông nghiệp lúa nước
khái niệm văn hóa gốc nông nghiệp
chức năng điều chỉnh xã hội của văn hóa


DMCA.com Protection Status
Links topic : http://www.tampacific.com/2018/01/con-nguoi-chu-khach-the-cua-van-hoa-van-hoa-va-van-hoa-hoc.html
- - 0 bình luận
CHUYÊN MỤC

Loading...
  • Google Comment (0)
  • Facebook Comment ()
  • Một số lưu ý khi bình luận

    Mọi bình luận sai nội quy sẽ bị xóa mà không cần báo trước (xem nội quy)

    Bấm Thông báo cho tôi bên dưới khung bình luận để nhận thông báo khi admin trả lời