THÁI LAN - CAMPUCHIA - SINGAPORE MALAYSIA INDONESIA Gọi ngay 0911.46.33.89 hay 01283.98.69.98 NGUYỄN THANH TÂM
Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và pháp luật đã được rất nhiều học giả đề cập và bàn luận. Kể từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, những tác phẩm của Karl Marx và Max Weber đã có những phân tích cụ thể và sâu sắc về mối quan hệ này. Theo học thuyết mang tính khái quát cao của K. Marx, pháp luật là một trong các yếu tố của kiến trúc thượng tầng, sinh ra trên cơ sở của hạ tầng, và bị quy định bởi cơ sở hạ tầng. Trong mối liên hệ giữa pháp luật và kinh tế www.tampacific.com thì các tiền đề kinh tế không chỉ là nguyên nhân trực tiếp quyết định sự ra đời của pháp luật, mà còn quyết định toàn bộ nội dung, tính chất và cơ chế để điều chỉnh pháp luật. Tính chất quyết định này, được thể hiện cụ thể ở các phương diện sau :

Các lý thuyết về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và pháp luật
* Thứ nhất : Cơ cấu kinh tế, hệ thống kinh tế quyết định cơ cấu và hệ thống pháp luật.

Trong mỗi cơ cấu và hệ thống kinh tế, đều có những loại quan hệ xã hội, quan hệ kinh tế đặc thù. Những mối quan hệ này có nhu cầu được điều chỉnh bằng pháp luật tương ứng. Vì vậy, pháp luật tòn tại trong khuôn khổ của cơ chế kinh tế, và có nhiệm vụ điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh từ cơ cấu kinh tế, và bảo đảm sự tồn tại bền vững của cơ cấu kinh tế. Chẳng hạn như, trong cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung, cơ cấu pháp luật về các nội dung liên quan trực tiếp đến công dân như Luật dân sự, Luật thương mại, ít được chú trọng phát triển. Nhưng trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, đây lại là nội dung được chú trọng quan tâm.

* Thứ hai : Tính chất của các quan hệ kinh tế quyết định tính chất của các quan hệ pháp luật, của mức độ và phương pháp điều chỉnh pháp luật.

Trong các cơ chế kinh tế khác nhau, các mối quan hệ kinh tế thường có tính chất và thuộc tính khác nhau. Vì vậy, bản thân các quan hệ kinh tế ở những cơ chế kinh tế khác nhau, cũng cần những phương pháp điều chỉnh khác nhau. Những phương pháp đó sẽ tạo ra những tính chất của từng kiểu quan hệ pháp luật cũng khác nhau. Chẳng hạn, trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mối quan hệ hợp đồng giữa các đơn vị kinh tế, được coi là hợp đồng kế hoạch. Trong cơ chế pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế này, có một nghĩa vụ đặc biệt là nghĩa vụ ký kết hợp đồng kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngược lại, trong cơ chế kinh tế thị trường, các mối quan hệ về hợp đồng được điều chỉnh bằng phương pháp tự do, dân chủ, thỏa thuận và bình đẳng.

* Thứ ba : Mỗi cơ chế kinh tế đều quyết định một hệ thống cơ quan và thủ tục pháp lý tương ứng.

Sự thay đổi của từng cơ chế kinh tế, kéo theo sự thay đổi của hệ thống các cơ quan pháp luật, các thủ tục pháp lý và cả tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy nhà nước. Điển hình như ở nước ta, quá trình chuyển đổi nền kinh tế làm biến mất một số cơ quan quản lý kinh tế quan trọng trong cơ chế kinh tế cũ, như tổ chức trọng tài kinh tế nhà nước, đã được thay thế bằng một loạt những cơ quan và tổ chức mới như Tòa kinh tế, Tòa lao động, ... Tuy nhiên, các nhà lý luận Marx - Lenin, cũng nhấn mạnh rằng du pháp luật được sinh ra từ các điều kiện, tiền đề kinh tế, nhưng pháp luật không phản ảnh thụ động các quan hệ mà có tác động ngược trở lại đối với kinh tế.

Đặc tính cơ bản của pháp luật là mô hình hóa các quan hệ xã hội. Trong đó, có các mối quan hệ kinh tế. Do vậy, pháp luật là hình thức quan trọng cho sự phát triển kinh tế. Pháp luật quy định, bảo vệ, cho phép, ngăn cấm hoặc khuyến khích các quan hệ kinh tế phù hợp với mục đích kinh tế của mỗi Nhà nước, trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Sự tác động trở lại của pháp luật, đối với kinh tế có thể biểu diễn ra theo những hướng khác nhau :

- Thứ nhất, nếu như các quy phạm pháp luật được xây dựng phù hợp với bản chất, tính chất của cơ chế kinh tế, với mục tiêu kinh tế của Nhà nước và xã hội, thì pháp luật đó sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của quá trình kinh tế, góp phần hoàn thiện hơn cơ chế kinh tế, và hệ thống kinh tế.

- Thứ hai, pháp luật không chỉ điều chỉnh những quan hệ kinh tế đã định hình, mà bằng khả năng sáng tạo của mình, pháp luật có thể đón bắt, và điều chỉnh những quan hệ kinh tế sẽ xuất hiện trong hệ thống kinh tế.

- Thứ ba, trường hợp pháp luật mâu thuẫn với nội dung, tính chất và quy luật của các quan hệ kinh tế, sẽ gây ra tác động kìm hãm sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, hoặc của một trong các yếu tố hợp thành hệ thống kinh tế, thậm chí có thể làm rối loạn các quá trình kinh tế, làm cho các hoạt động kinh tế và sự phát triển kinh tế đi ra ngoài quỹ đạo của mình.

Phân tích cụ thể hơn về mối quan hệ giữa pháp luật và phát triển, Max Weber nhà xã hội học nổi tiếng người Đức ( 1864 - 1920 ) đã nhấn mạnh đến vai trò của pháp luật đối với quá trình phát triển xã hội, qua việc xem xét vai trò của pháp luật trong việc góp phần hình thành chủ nghĩa tư bản ở Châu Âu. Weber cho rằng tính khái quát cao, áp dụng chung, bắt buộc phải tuân thủ đối với mọi đối tượng áp dụng của pháp luật, đã góp phần làm cho sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế, có thể lường trước, và dự đoán được. Chính nhờ tính khả đoán của pháp luật, mà quan hệ kinh tế trở nên ổn định hơn, giảm các chi phí trong các hoạt động kinh tế.

Hơn thế nữa, pháp luật các quốc gia phương Tây tạo ra cơ chế phù hợp với sự phát triển của kinh tế thị trường, với ba yếu tố cơ bản: (1) sự ghi nhận về tự do cá nhân (2) tự do sở hữu, (3) khuyến khích các quan hệ hợp đồng. Chính vì vậy, ở những quốc gia này, pháp luật với ba nền tảng cơ bản là sở hữu tư nhân, tự do khế ước, và tự do lập hội đã là cơ sở cho sự phát triển xã hội tiền chủ nghĩa tư bản. Gần đây hơn, mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế được các nhà kinh tế học hiện đại khảo sát nhiều hơn, dưới góc độ xem pháp luật như là một yếu tố chi phí giao dịch trong kinh doanh. Học thuyết này được bắt đầu phát triển từ đầu thế kỷ 20 với tên tuổi của Ronald H. Coase.

Theo đó, Coase tập trung phân tích về hành vi cụ thể của người kinh doanh, trong đó xem pháp luật là một phần chi phí của giao dịch. Một khi pháp luật minh bạch, ổn định, có thể dự báo trước được và tin cậy được sẽ làm giảm rủi ro kinh doanh, giảm chi phí giao dịch, từ đó giao lưu kinh tế sẽ gia tăng. Điều này, có nghĩa là tùy theo thực trạng pháp luật mà nhà kinh doanh, sẽ có các phản ứng khác nhau. Nếu môi trường pháp lý rõ ràng, rành mạch thì các chi phí để tìm hiểu, ra quyết định và thương thảo cũng như triển khai các giao dịch kinh doanh, sẽ giảm bớt. Do vậy, các nhà kinh doanh sẽ tăng cường các giao dịch kinh tế. Ngược lại, trong một môi trường pháp lý không rõ ràng, các nhà kinh doanh sẽ hạn chế giao dịch, hoặc tìm ra các kênh bảo hộ khác với chi phí giao dịch hợp lý hơn, so với các chi phí giao dịch qua kênh pháp luật chính thức.

Tới thế kỷ 21, nhà kinh tế học Daron Acemoglu và nhà khoa học chính trị James A. Robinson đã đưa ra luận điểm về sự phát triển kinh tế phụ thuộc trước hết vào tính đầy đủ, dung hợp ( inclusiveness ) của các thể chế kinh tế và chính trị. Các quốc gia khác nhau về mức độ thành công kinh tế, bởi sự khác nhau về thể chế, về các quy tắc ảnh hưởng đến nền kinh tế và các động cơ khuyến khích thúc đẩy người dân. Như vậy, các lý thuyết đều cho thấy pháp luật góp phần tạo ra hoàn cảnh và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế ở những góc độ khác nhau. Quan hệ giữa pháp luật với sự phát triển kinh tế không phải là một loại quan hệ có tính cách nhân quả, mà là một quan hệ tương liên, thường được biểu hiện bằng những chuyển đổi trong hệ thống pháp luật và trong khu vực kinh tế. Những chuyển đổi này có lúc song song và bổ trợ lẫn nhau, có lúc độc lập nhưng liên hoàn, tạo thành một chuỗi đồng bộ.

Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của các điều kiện kinh tế xã hội, trong giai đoạn toàn cầu hóa, nhiều nhà nghiên cứu kinh tế vào cuối thế kỷ 20 đã đặt ra vấn đề xem xét lại vai trò của yếu tố pháp luật, đối với phát triển kinh tế và đi tới kết luận rằng: pháp luật là yếu tố cần thiết, nhưng không phải là yếu tố cơ bản nhất, để tạo nên động lực cho sự phát triển vì hai yếu tố: (1) bản thân luật thành văn do Nhà nước xây dựng và ban hành sẽ không bao giờ đầy đủ để có thể điều chỉnh hết mọi tình huống trong cuộc sống ( tính không thể đầy đủ của pháp luật ) và (2) việc soạn thảo và thực thi pháp luật gây ra nhiều tổn hại về mặt chi phí.

Khái niệm về tính không thể đầy đủ, của pháp luật được phát triển dựa trên cách tiếp cận nghiên cứu có tính bứt phá với quan điểm, các hợp đồng được thiết lập bằng văn bản, không bao giờ có thể đầy đủ, tức là không bao giờ có thể kể rõ mọi tình huống có thể xãy ra cũng như dự liệu được hết các cách ứng phó. Việc soạn thảo các luật thành văn của Nhà nước cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự, cho dù Nhà nước có tiêu tốn rất nhiều thời gian, công sức và chi phí để xây dựng các quy định thành văn, thì cũng không thể nào hoàn thành được một văn bản pháp luật lường được hết mọi tình huống, có thể diễn ra trong cuộc sống, thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật đó.

Hơn thế nữa, việc xây dựng pháp luật, cũng như vận hành bộ máy thi hành luật là những hoạt động cần rất nhiều chi phí, và tài nguyên. Nếu không cần quá nhiều tài nguyên cho việc soạn luật, và thi hành luật thì một phần nhân lực ( như luật sư, công an, thẩm phán,... ) hoặc vật lực (như các kinh phí cho hoạt động của những người này, ...) có thể được sử dụng vào việc hữu ích và cấp thiết khác của quốc gia. Bên cạnh đó, một đặc điểm thông thường của hoạt động soạn thảo pháp luật, là khi các nhà làm luật nhận thấy một điều gì tiêu cực, không muốn xảy ra thì phản ứng thường là phải ra luật cấm, và yêu cầu các nhà hành pháp triệt để thi hành luật ấy.

Song, nếu xét trên góc độ kinh tế thì chưa hẳn, đây là một giải pháp hay, bởi có khả năng là chi phí để dùng vào việc soạn thảo luật, và thi hành các quy định cấm đó, không tương xứng với những thiệt hại do hành động bị cấm đưa lại. Tuy vậy, mục đích cuối cùng của các nhà kinh tế học, khi đưa thuyết "không thể đầy đủ" của pháp luật không phải là khuyến khích xã hội không cần để tâm đến việc xây dựng pháp luật thành văn, bởi vì pháp luật như đã đề cập ở trên, có những vai trò nhất định đối với sự phát triển của xã hội. Mục tiêu của lý thuyết này, là nhằm xác định và khuyến khích những thể chế có khả năng bù đắp cho sự không đầy đủ của pháp luật như các thể chế phi chính thức, bất thành văn như tập quán, chuẩn mực đạo đức, .... và một trong những yếu tố được đề cập đến nhiều trong thười gian qua, là sự tin cẩn trong xã hội hay yếu tố niềm tin.

Sự tin cẩn trong xã hội có thể được phân thành hai loại: tin cẩn vì quen biết nhau, có kinh nghiệm làm ăn với nhau ( thường được gọi là tin cẩn chiến lược ) và tin cẩn vì chia sẻ những giá trị văn hóa và đạo đức với nhau ( thường được gọi là tin cẩn đạo đức ). Một khi giữa các chủ thể kinh doanh có sự tin cẩn lẫn nhau, thì chi phí giao dịch giữa hai bên sẽ giảm đi, vì họ không còn mất nhiều thời gian để thương lượng, tìm hiểu đối thủ kinh doanh hoặc phải thuê các công ty luật soạn thảo các hợp đồng chi tiết để tránh các trường hợp xấu có thể xảy ra. Tuy lợi ích của việc giảm chi phí này rất cụ thể, và có nhiều trường hợp là không nhỏ nhưng tầm ảnh hưởng của nó tương đối hạn hẹp, vì số các chủ thể kinh doanh có thể tin cẩn lẫn nhau là không nhiều. Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, mỗi chủ thể kinh doanh không thể chỉ gói gọn hoạt động kinh doanh của mình, với một số lượng đối tác nhất định.

Tương tự, sự tin cẩn về mặt đạo đức cũng có tác dụng phần nào làm giảm chi phí kinh doanh. Khi hai đối tác kinh doanh, dù chưa có sự tin cẩn chiến lược, nhưng có cùng những giá trị văn hóa hoặc tôn giáo, thì dễ tìm thấy những điểm tương đồng, có thể tin cẩn được để giảm các chi phí kinh doanh. Chẳng hạn, nếu cả hai đối tác có cùng một tôn giáo, thì hai bên sẽ có lòng tin với nhau, sẽ tuân theo cùng những điều răn trogn đạo lý tôn giáo của cả hai bên. Tầm quan trọng của sự tin cẩn về đạo đức có giá trị hơn, trong việc xem xét về mức độ hiệu quả trong hoạt động của Nhà nước. Trong xã hội khi sự tin cẩn về đạo đức tăng lên, thì sự tham gia của người dân, vào hoạt động quản lý xã hội cũng tăng lên làm cho mức độ hiệu quả trong hoạt động nhà nước, cũng sẽ được nâng cao. Và từ đó, đến lượt mình, sự hữu hiệu của bộ máy nhà nước sẽ làm cho nền kinh tế, xã hội phát triển thêm và ngược lại.

Bạn nên chuẩn bị xem thêm bài viết tại link Các nghiên cứu thực chứng về mối liên hệ giữa thể chế pháp luật và mức độ phát triển kinh tế


Các tìm kiếm liên quan đến kinh tế và phát triển

download tạp chí kinh tế phát triển
các tạp chí kinh tế ở việt nam
tạp chí khoa học về kinh tế
tạp chí nghiên cứu kinh tế
bài báo nghiên cứu khoa học về kinh tế
tạp chí khoa học thương mại
tạp chí kinh tế thế giới
tạp chí phát triển và hội nhập

Các tìm kiếm liên quan đến kinh tế và pháp luật

đại học kinh tế đại học quốc gia hà nội điểm chuẩn 2016
đại học kinh tế đại học quốc gia hà nội tuyển sinh 2017
học phí đại học kinh tế đại học quốc gia hà nội
trường đh kinh tế - đại học quốc gia hà nội cầu giấy, hà nội
trường đại học kinh tế hà nội lấy bao nhiêu điểm
đại học kinh tế hà nội tuyển sinh 2017
trường đại học kinh tế quốc dân hai bà trưng, hà nội
cách tính điểm đại học quốc gia hà nội


DMCA.com Protection Status
Links topic : http://www.tampacific.com/2018/01/cac-ly-thuyet-ve-moi-quan-he-giua-phat-trien-kinh-te-va-phap-luat.html
- - 0 bình luận
CHUYÊN MỤC

Loading...
  • Google Comment (0)
  • Facebook Comment ()
  • Một số lưu ý khi bình luận

    Mọi bình luận sai nội quy sẽ bị xóa mà không cần báo trước (xem nội quy)

    Bấm Thông báo cho tôi bên dưới khung bình luận để nhận thông báo khi admin trả lời